Trắc nghiệm: Biến đổi khí hậu toàn cầu chủ yếu là do:

A. Con người đã đổ các chất thải sinh hoạt và công nghiệp vào sông hồ.

B. Con người đã đưa một lượng lớn khí thải vào khí quyển.

C. Các thảm họa như núi lửa, cháy rừng…

D. Các sự cố đắm tàu, tràn dầu, vỡ ống dầu

Lời giải:

Đáp án đúng:  B. Con người đã đưa một lượng lớn khí thải vào khí quyển

Giải thích: 

Biến đổi khí hậu chủ yếu là do con người đã đưa một lượng lớn khí thải vào khí quyển, làm tăng hiệu ứng nhà kính, tăng nhiệt độ trung bình của Trái Đất.

Cùng Top tài liệu tìm hiểu chi tiết về biến đổi khí hậu toàn cầu nhé!

1. Biến đổi khí hậu là gì?

Biến đổi khí hậu Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển, băng quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm. Sự biển đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình. Sự biến đổi khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên toàn Địa Cầu. Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu.

3. Nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu

Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái Đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác.

Những nhân tố có thể làm cho sự biến đổi khí hậu xuất hiện là thay đổi bức xạ khí quyển, bao gồm các quá trình như biến đổi bức xạ mặt trời, độ lệch quỹ đạo của Trái Đất, quá trình kiến tạo núi, kiến tạo trôi dạt lục địa và sự thay đổi nồng độ khí nhà kính. Nhiều phản ứng khác nhau của môi trường về biến đổi khí hậu có thể tăng cường hoặc giảm bớt các biến đổi ban đầu. Một số thành phần của hệ thống khí hậu, chẳng hạn như các đại dương và chỏm băng, phản ứng chậm với biến đổi bức xạ mặt trời vì khối lượng lớn. Do đó, hệ thống khí hậu có thể mất hàng thế kỷ hoặc lâu hơn để phản ứng hoàn toàn với những biến đổi từ bên ngoài.

Biến đổi khí hậu toàn cầu chủ yếu là do

3. Các biểu hiện của sự biến đổi khí hậu Trái đất

– Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung.

– Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất.

– Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển.

– Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người.

– Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.

– Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển.

4. Biến đổi khí hậu tại Việt Nam

a. Tác động của biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Là một quốc gia nằm trên bán đảo của Biển Đông thông ra Thái Bình Dương, với hơn 75% dân số sống dọc theo một bờ biển dài hơn 3.200 km và tại 02 đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, Việt Nam thuộc vào loại các nước bị ảnh hưởng nhiều nhất của BĐKH toàn cầu và mực nước biển dâng. Các nhà khoa học trên thế giới và trong nước khẳng định rằng Việt Nam là 1 trong 5 nước (Việt Nam, Ai Cập, Suriname, Bahamas, Bangladesh) bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng.

* Kịch bản về biến đổi khí hậu ở Việt Nam: Với sự trợ giúp từ Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP), một số cơ quan chuyên môn và nhà tài trợ quốc tế, vào tháng 8/2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tính toán và đưa ra 03 kịch bản BĐKH (cao, trung bình, thấp) đối với Việt Nam, trong đó kịch bản trung bình đã đưa ra kết quả dự báo rằng:

– Về nhiệt độ: vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm có thể tăng lên 2,6oC ở Tây Bắc; tăng 2,5oC ở Đông Bắc; tăng 2,4oC ở đồng bằng Bắc bộ; tăng 2,8oC ở Bắc Trung bộ; tăng 1,9oC ở Nam Trung bộ; tăng 1,6oC ở Tây nguyên và tăng 2,0oC ở Nam bộ so với trung bình của thời kỳ 1980-1999.

– Về lượng mưa: tổng lượng mưa và lượng mưa trong mùa mưa ở tất cả các vùng khí hậu của nước ta đều tăng, trong đó lượng mưa mùa khô có xu hướng giảm, đặc biệt là ở các vùng khí hậu phía Nam. Tính chung cho cả nước, lượng mưa cả năm vào cuối thế kỷ 21 tăng khoảng 5% so với thời kỳ 1980-1999. Ở các vùng phía Bắc mức tăng lượng mưa sẽ nhiều hơn so với khu vực phía Nam.

– Về nước biển dâng: mực nước biển sẽ dâng 30cm vào năm 2050 và cuối thế kỷ 21 sẽ dâng khoảng 75cm (Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhiệt độ trung bình ở nước ta trong khoảng 50 năm qua tăng 0,7oC và mực nước biển quan trắc ở các trạm Cửa Ông (Vịnh Hạ Long), Hòn Dấu (Đồi Sơn) tăng khoảng 20cm; tính trung bình mực nước biển ở Việt Nam đã tăng thêm 12cm).

– Năm 2012, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố kịch bản biến đổi khí hậu cập nhật  từ kịch bản năm 2009.

– Năm 2016 Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục công bố kịch bản biến đổi khí hậu mới.

– Nhìn chung kịch bản sau kế thừa kịch bản trước nhưng cụ thể, chi tiết hơn. Năm 2016 kịch bản biến đổi khí hậu sẽ cụ thể, chi tiết đến cấp huyện để các địa phương chủ động hơn trong xây dựng các kế hoạch ứng phó với BĐKH.

b. Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu

Việt Nam đã đưa ra những chính sách và triển khai các hoạt động ứng phó với BĐKH trong vòng một thập kỷ trở lại đây. Những chính sách này tập trung nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính và thích ứng với BĐKH.

Các hoạt động thích ứng với BĐKH tới năm 2030 bao gồm:

– Đạt ít nhất 90% các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội được lồng ghép vấn đề quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với BĐKH;

– Giảm 2%/năm tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước, riêng các huyện xã nghèo giảm 4%/năm;

– Hoàn thành 100% việc xây dựng các khu neo đậu tầu, thuyền tránh trú bão và 100% tầu, thuyền đánh bắt xa bờ có đủ thiết bị thông tin liên lạc;

– Nâng độ che phủ rừng lên 45%;

– Nâng diện tích rừng phòng hộ ven biển lên 380.000 ha, trong đó trồng thêm rừng ngập mặn từ 20.000 đến 50.000 ha;

– Đạt ít nhất 90% dân cư thành thị và 80% dân cư nông thôn sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh; và

– 100% số dân được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *