Để tìm hiểu sâu hơn về giá trị tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao, mời các em tham khảo một số bài văn mẫu Cảm nhận của em về nhân vật Lão Hạc sau đây. Hi vọng với các bài văn mẫu đặc sắc này các em sẽ có thêm tài liệu, cách triển khai để hoàn thiện bài viết một cách tốt nhất!

Bài mẫu 1 – Cảm nhận của em về nhân vật Lão Hạc

Một trong những cây bút viết về hiện thực trong làng văn học Việt Nam để lại nhiều ấn tượng nhất có lẽ không thể không nhắc đến Nam Cao. Ông để lại rất nhiều những áng văn chương viết về hiện thực xã hội rất có giá trị: đời thừa, chí phèo…Trong đó tiêu biểu có “Lão Hạc”. Đặc biệt nhân vật Lão Hạc để lại nhiều những nét ấn tượng khó phai trong lòng độc giả đến giờ.

Lão Hạc được tác giả Nam Cao khắc họa một cách rất sinh động, chi tiết đến chân thực. Thậm chí còn được coi là một hình tượng của người nông dân Việt Nam tiêu biểu trước Cách mạng Tháng Tám.

Cảm nhận của em về nhân vật Lão Hạc ngắn gọn

Tác phẩm “Lão Hạc” của Nam Cao lấy bối cảnh nông thôn Việt Nam trong những năm 1945 khi nước ta lâm vào nạn đói trầm trọng, người nông dân khốn khổ bởi chế độ một cổ hai tròng. Truyện ngắn được viết lại qua lời kể của thầy giáo Tứ một nhân vật trong truyện. Qua đó thể hiện sự tinh tế của tác giả, đồng thời thể hiện sự công bằng khách quan hơn trong cách kể về nhân vật Lão Hạc. Thông qua những lời kể mộc mạc, giản dị của Nam Cao đã khắc họa lên một bức chân dung về người nông dân gầy gò khắc khổ, nhưng hiền lành, lương thiện. Ông có một tấm lòng yêu thương con bao la vĩ đại của một người cha, tình cảm thương con vô bờ bến.

Lão Hạc có một cuộc đời bi thảm. vợ lão mất sớm, một mình lão gà trống nuôi con. Đến tuổi anh trai lấy vợ thì nhà lão nghèo quá, nhà gái thách cao nên anh con trai không lấy được vợ mà chán nản bỏ đi lên đồn điền cao su. Lão ngày ngày vò võ mong con về, chỉ biết thui thủi tâm sự với con chó Vàng- kỉ vật duy nhất cậu con trai để lại. nhưng vì hoàn cảnh quá nghèo đói mà lão phải bán đi người bạn duy nhất của lão, bán đi chỗ dựa tinh thần của lão. Cuối cùng để giữ tấm lòng trong sạch của mình, lão phải ăn bả chó tự tử, chết như một con chó. Cuộc đời lão là một cuộc đời đơn độc, quay quắt trong cái đói nghèo, bị cái đói nghèo đày dạo. Nam Cao thông qua cuộc đời nhân vật truyện mình để tố cái xã hội thực dân nửa phong kiến, dồn đẩy người nông dân tới bước đường cùng bằng tiếng nói đanh thép, nhưng không kém phần chua xót.

Sống trong cảnh đáng bồn vậy nhưng lão vẫn có tấm lòng vị tha, nhân hậu. Với cậu vàng lão yêu quý nó như “một bà mẹ hiếm hoi yêu quý đứa con cầu tự”. Lão cưng nựng vỗ về nó thậm chí chó nó ăn cơm như nhà giàu ăn cơm bát và hơn phần não. Lão coi nó như người bạn, ngày ngày tâm sự, trò chuyện. Còn đối với cậu con trai thì lão yêu quý gấp vạn lần. chỉ vì nghèo, không cưới được vợ cho con, làm con quẫn trí bỏ đi đồn điền cao su. Chính vì vậy mà lão dằn vặt chính bản thân, quyết chí giữ lại mảnh vườn để lúc con về mà còn có cái mà cưới vợ. Lão nói với cậu Vàng nhưng lại như nói với chính con mình. Mỗi lần lão ốm nhưng không dám động đến tiền dành dụm vì lão sợ ăn đụng vào tiền của con trai mình. Điều này làm lão khổ tâm hết sức. hành động lão gửi ông giáo mảnh vườn thể hiện mọi suy nghĩ đều hướng đến con trai, thậm chí cái chết của lão cũng vì con. Tình yêu lão dành cho con thật đặc biệt. không ồn ào, sôi nổi, không thể hiện qua hành động lời nói mà chỉ lặng lẽ yêu con trong tâm tưởng. tình yêu thương của lão con khiến chúng thật vô cùng cảm động.

Lão Hạc còn mang tấm lòng tự trọng cao quý. Lòng tự trọng với mọi người xung quanh, với con trai lão, với chính cậu Vàng, và cả chính bản thân lão. Lão nhớ ánh mắt đầy uất hận của cậu Vàng khi bị bắt trói. Lão đã rơi lệ và khổ tâm, “mếu máo như một đứa trẻ”, dằn vặt vì dám lừa một con chó vốn rất tin tưởng lão. Còn với con trai lão còn khổ tâm hơn. Đến cả trận ốm kéo dài đằng đẵng, lão cũng không dám đụng đến số tiền dành dụm, không dám bán đi mảnh vườn mà vợ chồng lão cố công kiếm để dành cho cậu con trai. Và cuối cùng, chỉ vì đói kém, ốm đau, vì sự mạt hạng của cái xã hội thối nát đã đẩy lão đến con đường tìm đến cái chết. Thế nhưng đến chết lão cũng chết đầy đau khổ, phải tự ăn bả chó, chết như một con chó không ai hay không ai rõ. Thế nhưng cái chết đó lại là minh chứng rõ nhất cho tấm lòng tự trọng cao quý của tâm hồn đó. Lão chấp nhận chọn cái chết để khỏi phải để cái đói ăn mòn lương tâm, chọn cái chết để bắt đầu một kiếp mới, chọn cái chết để bảo tròn cho tâm hồn trong sáng không vấy bẩn của lão. Thật đáng khâm phục.

Bằng ngòi bút miêu tả tâm lí, tự sự tác giả Nam Cao đã rất thành công khi xây dựng nên một nhân vật Lão Hạc điển hình cho người nông dân. Đó chính là người có tấm lòng tự trọng, có lối sống trong sạch tinh khiết, tấm lòng yêu thương con tha thiết dù cuộc sống khốn khổ, bị đày đọa khổ ải.

Từ đó khái quát lên hình tượng chung cho hình tượng người nông dân Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám tiêu biểu. Hơn hết ta còn thấy ở đó một tấm lòng yêu thương tài năng nghệ thuật của Nam Cao.

Bài mẫu 2 – Cảm nhận của em về nhân vật Lão Hạc

“Lão Hạc” của Nam Cao ra mắt bạn đọc năm 1943. Câu chuyện về số phận thê thảm của người nông dân Việt Nam trong bối cảnh đe doạ của nạn đói và cuộc sống cùng túng đã để lại xúc động sâu xa trong lòng độc giả. Đặc biệt, tác giả đã diễn tả tập trung vào tâm trạng nhân vật chính – lão Hạc – xoay quanh việc bán chó đã giúp ta hiểu thêm tấm lòng của một người cha đáng thương, một con người có nhân cách đáng quý và một sự thực phũ phàng phủ chụp lên những cuộc đời lương thiện.

Con chó – cậu Vàng như cách gọi của lão là hình ảnh kỷ niệm duy nhất của đứa con. Hơn thế, cậu Vàng còn là nguồn an ủi của một ông lão cô đơn. Lão cho cậu ăn trong bát, chia xẻ thức ăn, chăm sóc, trò chuyện với cậu như với một con người. Bởi thế, cái ý định “có lẽ tôi bán con chó đấy” của lão bao lần chần chừ không thực hiện được. Nhưng rồi, cuối cùng cậu Vàng cũng đã được bán đi với giá năm đồng bạc.

Cậu Vàng bị bán đi! Có lẽ đó là quyết định khó khăn nhất đời của lão. Năm đồng bạc Đông Dương kể ra là một món tiền to, nhất là giữa buổi đói deo đói dắt. Nhưng lão bán cậu không phải vì tiền, bởi “gạo thì cứ kém mãi đi” mà một ngày lo “ba hào gạo” thì lão không đủ sức. Cậu Vàng trở thành gánh nặng, nhưng bán cậu rồi lão lại đau khổ dày vò chính mình trong tâm trạng nặng trĩu.

Khoảnh khắc “lão cố làm ra vui vẻ” cũng không giấu được khuôn mặt “cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước”. Nỗi đau đớn cố kìm nén của lão Hạc như cắt nghĩa cho việc làm bất đắc dĩ, khiến ông giáo là người được báo tin cũng không tránh khỏi cảm giác ái ngại cho lão.

Ông giáo hiểu được tâm trạng của một con người phải bán đi con vật bầu bạn trung thành của mình. Cảm giác ân hận theo đuổi dày vò lão tạo nên đột biến trên gương mặt: “Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…”.

Những suy nghĩ của một ông lão suốt đời sống lương thiện có thể làm người đọc phải chảy nước mắt theo: “Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó”. Bản chất của một con người lương thiện, tính cách của một người nông dân nghèo khổ mà nhân hậu, tình nghĩa, trung thực và giàu lòng vị tha được bộc lộ đầy đủ trong đoạn văn đầy nước mắt này.

Nhưng không chỉ có vậy, lão Hạc còn trải qua những cảm giác chua chát tủi cực của một kiếp người, ý thức về thân phận của một ông lão nghèo khổ, cô đơn cũng từ liên tưởng giữa kiếp người – kiếp chó: “Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút… kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn”.

Suy cho cùng, việc bán chó cũng xuất phát từ tấm lòng của một người cha thương con và luôn lo lắng cho hạnh phúc, tương lai của con. Tấm lòng ấy đáng được trân trọng! Hiện thực thật nghiệt ngã đã dứt đứa con ra khỏi vòng tay của lão, cái đói cái nghèo lại tiếp tục cướp đi của lão người bạn cậu Vàng. Bản thân lão như bị dứt đi từng mảng sự sống sau những biến cố, dù cho cố “cười gượng” một cách khó khăn nhưng lão dường như đã nhìn thấy trước cái chết của chính mình. Những lời gửi gắm và món tiền trao cho ông giáo giữ hộ sau lúc bán chó có ngờ đâu cũng là những lời trăng trối.

Kết cục số phận của lão Hạc là cái chết được báo trước nhưng vẫn khiến mọi người bất ngờ, thương cảm. Quyết định dữ dội tìm đến cái chết bằng bả chó là giải pháp duy nhất đối với lão Hạc, để lão đứng vững trên bờ lương thiện trước vực sâu tha hoá. Kết thúc bi kịch cũng là thật sự chấm dứt những dằn vặt riêng tư của lão Hạc, nhưng để lại bao suy ngẫm về số phận những con người nghèo khổ lương thiện trong xã hội cũ.

Xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm, nhân vật tôi là người bạn, là chỗ dựa tinh thần của lão Hạc. Những suy nghĩ của nhân vật này giúp người đọc hiểu rõ hơn về con người lão Hạc. Nhân vật lão Hạc đẹp, cao quý thực sự thông qua nhân vật tôi.

Cái hay của tác phẩm này chính là ở chỗ tác giả cố tình đánh lừa để ngay cả một người thân thiết, gần gũi với lão Hạc như ông giáo vẫn có lúc hiểu lầm về lão. Sự thật nhân vật tôi cố hiểu, cố dõi theo mới hiểu hết con người Lão Hạc. Khi nghe Binh Tư cho biết lão Hạc xin bã chó, ông giáo ngỡ ngàng, chột dạ: “Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có cái ăn ư? Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày lại thêm đáng buồn”.Chi tiết này đẩy tình huống truyện lên đến đỉnh điểm. Nó đánh lừa chuyển ý nghĩ tốt đẹp của ông giáo và người đọc sang một hướng khác: Một con người giàu lòng tự trọng, nhân hậu như lão Hạc cuối cùng cũng bị cái ăn làm cho tha hoá, biến chất sao? Nếu Lão Hạc như thế thì niềm tin về cuộc đời về ông giáo sẽ sụp đổ, vỡ tan như chồng ly thủy tinh vụn nát.

Nhưng khi chứng kiến cái chết đau đớn dữ dội vì ăn bã chó của lão Hạc, ông giáo mới vỡ oà ra: “Không! Cuộc đời chưa hẳn đáng buồn hay vẫn đáng buồn theo một nghĩa khác”. Đến đây truyện đi đến hồi mở nút, để cho tâm tư chất chứa của ông giáo tuôn trào theo dòng mạch suy nghĩ chân thành, sâu sắc về lão Hạc và người nông dân… “Chao ôi! Đối với những người xung quanh ta, nếu không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dỡ, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa bỉ ổi … toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương”.

Có lẽ đây là triết lý sống xen lẫn cảm xúc xót xa của Nam Cao. Ở đời cần phải có một trái tim biết rung động, chia xẻ, biết yêu thương, bao bọc người khác, cần phải nhìn những người xung quanh mình một cách đầy đủ, phải biết nhìn bằng đôi mắt của tình thương.

Với Nam Cao con người chỉ xứng đáng với danh hiệu con người khi biết đồng cảm với những người xung quanh, biết phát hiện, trân trọng, nâng niu những điều đáng quý, đáng thương. Muốn làm được điều này con người cần biết tự đặt mình vào cảnh ngộ cụ thể của người khác để hiểu đúng, thông cảm thực sự cho họ.

Chuyện được kể ở ngôi thứ nhất, nhân vật tôi trực tiếp kể lại toàn bộ câu chuyện cho nên ta có cảm giác đây là câu chuyện thật ngoài đời đang ùa vào trang sách. Thông qua nhân vật tôi, Nam Cao đã thể hiện hết Con người bên trong của mình.

Đau đớn, xót xa nhưng không bi lụy mà vẫn tin ở con người. Nam Cao chưa bao giờ khóc vì khốn khó, túng quẫn của bản thân nhưng lại khóc cho tình người, tình đời. Ta khó phân biệt được đâu là giọt nước mắt của lão Hạc, đâu là giọt nước mắt của ông giáo: Khi rân rân, khi ầng ực nước, khi khóc thầm, khi vỡ oà nức nỡ. Thậm chí nước mắt còn ẩn chứa trong cả nụ cười: Cười đưa đà, cười nhạt, cười và ho sòng sọc, cười như mếu …

Việc tác giả hoá thân vào nhân vật tôi làm cho cách kể linh hoạt, lời kể chuyển dịch trong mọi góc không gian, thời gian, kết hợp giữa kể và tả, hồi tưởng với bộc lộ cảm xúc trữ tình và triết lý sâu sắc…

Truyện ngắn Lão Hạc là tác phẩm của mọi thời, bi kịch của đời thường đã trở thành bi kịch vĩnh cửa. Con người với những gì cao cả, thấp hèn đều có trong tác phẩm. Thông qua nhân vật tôi tác giả đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh: Hãy cứu lấy con người, hãy bảo vệ nhân phẩm con người trong con lũ cuộc đời sẵn sàng xoá bỏ mạng sống và đạo đức. Cho nên chúng ta nên đặt nhân vật tôi ở một vị trí tương xứng hơn khi tìm hiểu tác phẩm.

Bài mẫu 3 – Cảm nhận của em về nhân vật Lão Hạc

Trong tất cả các tác giả văn học chuyên viết truyện ngắn và chủ đề chính là xã hội phong kiến xưa không thể quên nhắc đến tác giả Nam Cao. Ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm mang lại giá trị to lớn, góp phần làm phong phú hơn cho nền văn học truyện ngắn Việt Nam và 1 trong số đó có truyện ngắn “Lão Hạc” là tiêu biểu nhất. Trong quá trình phát triển nhân vật, nhân vật lão Hạc đã để lại cho người đọc trong lòng những dư âm khó quên.

Truyện ngắn “Lão Hạc” được đăng báo năm 1943 và được đánh giá là tác phẩm tiêu biểu của khó tàng truyện ngắn hiện thực. Truyện đã ngầm phản ánh và tố cáo được phần nào về hiện thực của xã hội phong kiến xưa đối với cuộc sống lam lũ, vất vả của người nông dân trong thời kì  Cách mạng tháng Tám. Lão Hạc là một nhân vật biểu tượng cho hình ảnh của những người nông dân nghèo, lão Hạc có hoàn  cảnh không mấy tốt đẹp, vợ lão đã bỏ cha con lão mà ra đi từ sớm lão phải chịu cảnh gà trống nuôi con. Anh con trai của lão do không đủ tiền cưới vợ nên quẫn chí bỏ đi làm ở đồn điền cao su. Sau khi con trai của lão đi đồn điền, lão Hạc một thân một mình sống  với con chó của lão đặt tên là cậu Vàng để bầu bạn. Do mất mùa, bị ốm, và không có việc làm, sợ tiêu vào số tiền dành dụm cho con, lão Hạc đành đau lòng bán chó Vàng đi. Sau khi bán chó, lão gửi ông giáo mảnh vườn nhờ trông hộ cùng với đó là 30 đồng bạc nhờ lỗ ma chay. Lão Hạc lại tiếp tục một cuộc sống khốn khó, thiếu thốn nhưng những khó khăn của lúc này hơn khi xưa nhiều  nhưng lão vẫn quyết luôn từ chối mọi sự  giúp đỡ từ người khác. Nhưng đến cuối câu chuyện, lão Hạc đã tự kết liễu cuộc đời  khổ đau của mình bằng bả chó trước sự chứng kiến của bao bà con hàng xóm. Trong truyện, nhân vật lão Hạc dù sống trong hoàn cảnh nghèo khó, khổ sở nhưng lão vẫn giữ được cho mình những đức tính tốt.

Lão Hạc là một người cha yêu thương con hết mực, nguyện vì con mà hy sinh. Lão thương con lắm, lão cố gắng kiếm tiền để cho con trai lấy vợ nhưng dù cố đến mấy thì lão vẫn không lo được. Cũng vì thế mà con trai lão bỏ đi làm ở đồn điền cao su -cái nơi ấy đi thì dễ mà về thì khó, anh còn trai vì thế mà biền biệt một năm ròng không có tin tức gì.Lão chỉ biết sống đơn độc một mình với kỷ vật mà đứa con trước khi đi đã để lại cho lão là một con chó và lão coi nó như con người và xưng hô bằng cái tên gần gũi là “cậu Vàng”, khi buồn thì lão có cậu Vàng là người để tâm sự. Lão Hạc cố gắng tìm việc làm, kiếm chút tiền để sống  qua ngày, cố sống cho đến khi con trai về, lập gia đình và lão mong được sống bên con bên cháu vui vẻ. Nhưng đời đâu cho lão mong muốn gì được điều đấy, lão ngày càng tiều tụy, yếu đi ghê lắm sau trận ốm kéo dài. Số tiền lão dành dụm bấy lâu cũng sắp cạn kiệt. Không việc làm, rau màu thì bị bão quật đổ hết, mùa màng thì thất thu khiến cho cuộc sống của lão Hạc ngày càng khó khăn. Nhưng dù cho cuộc sống của lão Hạc có khó đến đâu thì lão cũng không hề dùng đến 1 đồng nào trong số tiền lão đã cố gắng dành dụm cho đứa con trai và chờ nó về. Cuối cùng, lão đành đưa ra quyết định đau lòng là bán cậu Vàng đi, bán con chó mà lão coi nó như người thân và nó đã bầu bạn với lão khi cô đơn. Sau khi bán chó, lão Hạc sang nhờ ông giáo giữ hộ mảnh vườn 3 sào mà khi xưa vợ lão phải thắt lưng buộc bụng giữ lại cho người con trai và cùng đó là 30 đồng bạc lo ma chay cho chính lão.

Không chỉ có tình yêu thương, lo lắng cho con mà lão Hạc còn có tấm lòng giàu tình yêu thương cho dù đối phương là một con chó đi nữa. Tất cả bộc lộ quá chị tiết sau khi bán chó của lão Hạc. Lão thấy ăn năn, hối hận vì đã tự tay bán đi cậu Vàng mà lão mến. Ngày sau khi bán chó, lão sang nhà ông giáo để giãi bày nỗi đau, ân hạn trong lòng mình với dáng vẻ trông rất khổ sở “Mặt lão đột nhiên co dúm lại. Những nếp nhăn xô lại ép cho nước mắt phải chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu máo như con nít”. Lão Hạc kể cho ông giáo nghe tâm sự của mình mà dường như lão còn tự trách mắng bản thân quá đỗi vô tâm,  phũ phàng với con chó- con vật thân thương của lão”A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à! Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu mà còn đi đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó.

Lão Hạc là người nông dân tùy nghèo khổ, cuộc sống thiếu thốn nhưng vẫn luôn giữ được lòng tự trọng, tình nghĩa và trung thực. Lão Hạc không nhận sự giúp đỡ từ ông giáo, không chỉ thế lão còn tự chuẩn bị tiền làm ma chay cho mình và gửi ông giáo giữ hộ để khi cần thì ông giáo đưa ra coi như lão cũng có chút tiền lúc cần thiết và còn lại nhờ bà con hàng xom lộ hộ. Lão không muốn mắc nợ ai cả, lão tự lực cánh sinh làm nụng để có cái sống qua ngày mà không liên lụy đến người khác. Có lẽ do sự việc tự lão đã bán cậu Vàng thì lão cảm thấy bản thân đã rất cắn rứt lương tâm. Thế là lão Hạc bèn quá nhà Binh Tư để xin ít bả chó và với cái lý do đi bắt chó nhà khác, chính vì thế lão đã làm cho Binh Tư và cả ông giáo hiểu lầm rằng lão già bộ hiền lành. Mãi cho đến khi tận mắt chứng kiến cái chết do bả chó mà chính lão Hạc vừa xin được đó, một cái chết đau đớn, vật vã, lão khi sống đã sống cuộc sống khổ cực mà đến cái chết lão cũng không muốn tự chọn cho mình một cái chết yên bình, nhẹ nhõm, dễ chịu mà phải cố tình làm cho cái chết đau đớn, dằn vật về thể xác nhưng có lẽ trong thâm tâm lão đã yên tâm ra đi rồi. “Lão đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nảy lên. Hai người đàn ông lực lưỡng phải ngồi lên người lão. Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết…”. Lão muốn tâm hồn mình trong sạch sau bao sự dằn vặt của lương tâm. Lão đi rồi, lão Hạc đã đi đến cái chết để không đụng vào tiền của con trai lão khi bất đắc dĩ, lão đi tìm cậu Vàng tạ lỗi vì quá nhẫn tâm. Lão Hạc, cho đến cuối đời, lão luôn là một người có trái tim trong sáng, thuần khiết, tấm lòng yêu thương con vật đáng trân trọng, thật đáng quý, ngưỡng mộ biết bao.

Qua truyện ngắn “Lão Hạc” tác giả Nam Cao đã thể hiện một cách chân thực, rõ nét về hình ảnh người nông dân trong xã hội xưa là hình ảnh của những con người lao động cần cù, chăm chỉ, thiện lương nhưng lại luôn phải chịu sự chèn ép, áp bức nặng nề của cả một xã hội thối nát. Chính sự tàn ác của tập đoàn phòng kiến đã dồn người dân vào bước đường cùng, đã khiến cho không ít người phải lựa chọn “thà chết trong còn hơn sống nhục” .

Nhà văn Nam Cao đã khắc hoạ, tạo nên cho tác phẩm của ông một nhân vật lão Hạc sinh động, chân thật. Câu chuyện đã thể hiện được những suy nghĩ, tính cách, hành động của nhân vật một cách chi tiết qua những câu văn. Quan trọng hơn hết là ông đã cho người đọc những ấn tượng sâu sắc về lòng yêu thương con, sự trong sáng, trung thực và đức tính nhân hậu của lão Hạc.

—/—

Trên đây là một số bài văn mẫu Cảm nhận của em về nhân vật Lão Hạc Top tài liệu đã biên soạn. Hy vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em có một bài văn thật tốt!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *