Top tài liệu

CHIẾC LƯỢC NGÀ

(Nguyễn Quang Sáng)

A. KIẾN THỨC CƠ BẢN.

I. Tác giả:

– Nguyễn Quang Sáng: sinh năm 1932, quê ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

– Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia bộ đội, hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. Từ sau 1954 tập kết ra miền Bắc, Nguyễn Quang Sáng bắt đầu viết văn. Những năm chống Mĩ ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến và tiếp tục sáng tác văn học.

– Tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng có nhiều thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim và hầu như chỉ viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong 2 cuộc kháng chiến cũng như sau hòa bình.

II. Tác phẩm:

1. Hoàn cảnh sáng tác: truyện ngắn “chiếc lược ngà” được viết năm 1966 khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ và được đưa vào tập truyện cùng tên.

2. Khái quát nội dung và nghệ thuật:

* Nội dung: thể hiện tình cha con cảm động và sâu nặng trong hoàn cảnh éo le, khắc nghiệt của chiến tranh.

* Nghệ thuật: tình huống bất ngờ, tự nhiên, hợp lí: thành công trong việc miêu tả tâm lí và xây dựng tính cách nhân vật, đặc biệt là nhân vật trẻ em (bé Thu).

3. Tóm tắt truyện:

– Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến. Mãi đến khi con gái lên tám tuổi ông mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Bé Thu – con ông – không nhận ra cha vì vết thẹo trên mặt làm ông không giống với người cha trong bức ảnh mà em biết. Em đối xử với ba như người xa lạ. Cho đến lúc em nhận ra cha, tình cha con trỗi dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi.

– Ở khu căn cứ, người cha ấy đã dồn hết tình cảm yêu thương và nỗi nhớ mong con vào một việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để tặng cô con gái bé bỏng. Trong một trận càn, ông đã hi sinh. Trước lúc nhắm mắt, ông còn kịp trao cây lược ngà nhờ người bạn gửi về cho con gái của mình.

B. PHÂN TÍCH TÁC PHẨM:

I. Tình huống truyện:

Truyện ngắn đã thể hiện tình cha con sâu sắc của hai cha con ông Sáu trong hai tình huống:

– Tình huống thứ nhất: hai cha con gặp nhau sau tám năm xa cách, nhưng thật trớ trêu là bé Thu không nhận ra cha, đến lúc em nhận ra và biểu lộ tình cảm thắm thiết thì ông Sáu lại phải ra đi. Đây là tình huống cơ bản của truyện.

– Tình huống thứ hai: ở khu căn cứ, ông Sáu dồn tất cả yêu thương và mong nhớ đứa con vào việc làm một chiếc lược ngà để tặng con, nhưng ông Sáu đã hi sinh khi chưa kịp trao món quà ấy cho con gái.

=> Nếu tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm mãnh liệt của bé Thu với cha thì tình huống thứ hai lại biểu lộ tình cảm sâu sắc của người cha với con gái

II. Đề bài: Cảm nhận của em về tình cảm cha con sâu nặng thể hiện qua truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.

1. Phần mở bài:

– Dẫn dắt vấn đề: Hoàn cảnh chiến tranh hoặc đề tài về tình cha con.

– Nội dung: tình cảm cha con giữa ông Sáu và bé Thu

2. Phần thân bài:

a. Tình cảm cha con sâu nặng giữa ông Sáu và bé Thu:

– Chủ đề không mới lạ nhưng thành công của Nguyễn Quang Sáng trong đoạn trích này chính là cách khai thác và biểu hiện tình cha con trong tình huống thật có lý: chiến tranh – xa cách.

+ 8 năm trời hai cha con bé Thu không được gặp nhau

+ Chỉ nhận ra nhau qua tấm hình

– Tình cảm cha con sâu nặng: khi phân tích chú ý qua những mốc sự việc

+ Lúc còn ở trong rừng:

* Ông Sáu nhớ thương con vô cùng

* Khao khát được gặp con, được sống trong tình yêu của con

+ Khi gặp con:

* Thuyền chưa cập bến nhảy vội lên bờ gọi con

* Con bé ngạc nhiên sợ hãi bỏ chạy

+ 3 ngày nghỉ phép ở nhà:

* Ông khao khát tình cảm của con bao nhiêu con bé hoàn toàn lạnh lung trước mọi tình cảm vồ vập của cha.

* Ông càng xích lại gần >< nó càng lùi xa

* Ông càng chiều thương >< nó càng lẩn tránh

* Ông càng mong được nghe tiếng ba >< nó càng cố tình lẩn tránh.

Ngọn lửa nồng nàn của lòng cha cứ bị những đối xử xa lánh, ương ngạnh, của nó chối từ kể cả khi nó bị lâm vào thế bí “nồi cơm sôi sùng sục” kể cả những lời giảng giải của mẹ, nó cũng kiên quyết không chịu cất lên cái tiếng mà ba nó mong đợi. Điều đó làm ông Sáu thực sự đau lòng, ông chỉ biết lắc đầu cam chịu bởi tình cảm không dễ gì gượng ép? Nhưng khi hiểu ra thì lại thấy rằng: chính thái độ ương ngạnh, ngang bướng đó lại là biểu hiện tuyệt vời của tình cảm phụ tử. Đơn giản vì vết thẹo dài trên má người đang xưng là ba đây lại không giống với ảnh ba mình  Thắc mắc thầm kín trong lòng nó.

+ Bé Thu được ngoại giảng giải:

* Bé Thu vỡ lẽ ra người có vết thẹo đó chính là ba em.  Tình yêu thương của cha nhân lên gấp bội.

* Nó cất tiếng gọi cha đúng lúc cha nó phải lên đường. Nó chạy lại ôm hôn cha nó. Những giọt nước mắt hiếm hoi của ông, một người cha, một người lính lăn dài trên má ông.

+ Lại những ngày ông Sáu xa con:

* Ông thương nhớ con, ân hận vì mình đã đánh con.

* Tình yêu thương con dồn vào việc thể hiện lời hứa với con, làm cho con một chiếc lược ngà.

* Tự ông đi tìm ngà voi rồi tự tay ông ngồi cưa từng cái răng lược, thận trọng, khổ công như một người thợ bạc gò lưng, tỉ mỉ khắc lên đó một dòng chữ: “ Yêu nhớ tặng Thu – con của ba”.
Thỉnh thoảng những lúc rảnh rỗi, ông lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho thêm bong, thêm mượt… Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ thành một nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một sản phẩm duy nhất trong đời. Cho nên cây lược ngà kết tinh trong nó tình phụ tử: mộc mạc mà đằm thắm; sâu xa, đơn sơ mà kỳ diệu

+ Khi bị thương nặng, biết không thể sống được, ông đã dồn tất cả tàn lực của mình làm một việc: “đưa tay vào túi móc cây lược đưa lại cho ông Ba” như trao lại lời trăng trối cùng, tuy không thành lời nhưng nói rõ ràng, thiêng liêng hơn cả một lời di chúc. Bởi đó là ủy thác, là ước nguyện cuối cùng đối với người bạn thân. Chiếc lược ngà – biểu tượng cao quý của tình cha con giữa ông Sáu và bé Thu.

3. Về nghệ thuật:

– Cốt truyện chặt chẽ, cách lựa chọn tình huống bất ngờ mà tự nhiên, hợp lí.

– Lựa chọn ngôi kể, cảnh kể và ngôn ngữ lời thoại cho nhân vật… Góp phần không chỉ làm cho câu chuyện đảm bảo tính khách quan, chân thực, tin cậy mà còn hoàn toàn chủ động điều khiển nhịp kể và dẫn dắt nội dung câu truyện theo dòng cảm xúc của mình.

III. Suy nghĩ của em về nhân vật ông Sáu:

1. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả tác phẩm.

– Suy nghĩ của em về nhân vật ông Sáu: một người chiến sĩ, một người cha nhất mực thương yêu con.

2. Thân bài;

a. Lúc còn ở rừng.

– Ông nhớ thương con vô cùng.

– Khao khát được gặp con, được sống trong tình yêu của con

b. Khi gặp con (ở bến xuồng):

– Ông đã không thể chờ xuồng cập lại bến “nhón chân nhảy thót lên bờ, xô chiếc xuồng tạt ra”. Rồi “bước vội vàng với những bước dài”, “kêu to tên con, vừa bước, vừa khom người đưa tay đón chờ con”

– Vết thẹo dài trên má phải anh lại đỏ ửng lên, giần giật. Giọng nói lập bập, run run: “ba đây con, ba đây con”. Tâm trạng xúc động mạnh mẽ, sau 7 năm xa nhà, tình cảm cha con bị nén trong lòng. Nên ông Sáu không ghìm nổi.

– Ngược lại, bé Thu giật mình, ngơ ngác, hốt hoảng và vụt bỏ chạy điều đó hoàn toàn bất ngờ với ông Sáu, khiến “mặt ông sầm lại” và “hai tay buông xuống như bị gẫy”. Thể hiện tâm trạng đau khổ tột cùng, ông sung sướng, náo nức, nôn nóng muốn được ôm con vào lòng, nhưng đứa con lại xa lánh, hoảng sợ khiến ông bị hụt hẫng, đau đớn, không hiểu nguyên nhân vì sao, ông vừa thất vọng, vừa bất lực.

c. Trong 3 ngày nghỉ phép:

– Ông chẳng đi đâu xa, chỉ tìm cách gần gũi để nghe một tiếng gọi “ba” của con bé.

– Mọi cố gắng của ông từ việc “giả vờ không nghe”, đến việc dồn nó vào thế bí(chắt nước cơm) nhưng không có kết quả.

– Trong bữa ăn, do nôn nóng, bực tức, không kịp suy nghĩ, ông đã đánh con bé  con bé bỏ sang nhà ngoại.

– Tình yêu thương con của ông Sáu đã không được bé Thu đón nhận, đáp lại, nó kiên quyết không chịu cất lên cái tiếng mà ba nó mong mỏi – điều đó làm ông Sáu thực sự đau lòng, ông chỉ biết lắc đầu cam chịu, bởi tình cảm không dễ gì gượng ép.

d. Lại những ngày ông Sáu xa con:

– Ông thương con, ân hận vì mình đã đánh con

– Ông dồn tình yêu thương ấy vào việc làm cho con một chiếc lược ngà – lời hứa với con trước lúc chia tay.

+ Tự động đi tìm ngà voi rồi tự tay ông cưa từng chiếc răng lược thận trọng, khổ cùng như là một người thợ bạc.

+ Ông còn gò lưng tỉ mẩn khắc lên đó dòng chữ “yêu nhớ – tặng Thu con của ba”, Chiếc lược ngà gỡ rối được phần nào tâm trạng của người cha, chiếc lược ấy là tình cảm, tấm lòng, là yêu thương mà ông gửi gắm – thỉnh thoảng những lúc rảnh rỗi ông lại lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho bóng, thêm mượt.

– Trước khi hi sinh, ông Sáu móc cây lược ra trao vào tay người bạn chiến đấu. Chỉ khi nhận được lời hứa “mang về trao tận tay cho cháu”, người cha đó mới nhắm mắt được. Cử chỉ ấy cho ta hiểu tình cha con mãnh liệt và tha thiết của ông.

* Về nghệ thuật (xem lại đề A)

IV. Suy nghĩ của em về nhân vật bé Thu.

1. Mở bài: Tự làm

(ND: bé Thu – một đứa bé bướng bỉnh, đáo để nhưng lại thương cha mẹ hết mực)

2. Thân bài:

a. LĐ 1: bé Thu – một đứa bé bướng bỉnh, cứng đầu và gan lì.

– Khi gặp ông Sáu ở bến xuồng, nghe tiếng gọi tên mình, Thu “giật mình tròn mắt nhìn”. Nó ngơ ngác, lạ lùng, mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: “má, má” – 3 ngày nghỉ phép:

+ Thu xa lánh ông Sáu trong lúc ông tìm cách vỗ về, gần gũi. Thu nhất quyết không chịu gọi tiếng “ba”

+ Má dọa đánh, Thu buộc phải gọi ông Sáu vô ăn cơm, gọi chắt nước cơm nhưng lại nói trổng.

+ Bác Ba nói mẫu nhưng Thu vẫn không gọi

+ Bị dồn vào thế bí, nó nhăn nhó muốn khóc nhưng tự lấy rá chắt nước chứ không chịu gọi “ba”

+ Thu đã hất tung cái trứng cá ra mâm, cơm văng tung toé – bị đòn, không khóc, chạy sang nhà bà ngoại, cố ý khua cho dây xuồng kêu thật to. Bé Thu thật là bướng bỉnh, cứng đầu và gan lì. Đến bác Ba cũng phải nghĩ “con bé đáo để thật”, còn ông Sáu thì không nén được: “sao mày cứng đầu quá vậy?” Chính thái độ ương ngạnh, ngang bướng đó lại là biểu hiện tuyệt vời của tình cha con. Lí do nó không nhận ba thật đơn giản, trẻ con, bất ngờ mà hợp lí.

b. LĐ 2: bé Thu – một cô bé có tình yêu thương cha tha thiết

– Trước lúc ông Sáu lên đường

+ Tình ca con trở lại vào thời khắc ngắn ngủi nhất, đem lại cho người đọc nỗi xúc động nghẹn ngào.

+ Trong cái ngày trước khi ông Sáu lên đường vào chiến khu, con bé cùng ngủ với bà ngoại. Trong đếm ấy, bà đã giảng giải cho nó nghe, phân tích cho nó hiểu. Con bé đã biết được rằng ông Sáu chính là cha mình. Nó cũng hiểu vết sẹo ghê sợ của ông là vết thương trong chiến đấu. Sau khi hiểu được nguồn gốc lai lịch vết sẹo trên mặt cha, con bé lăn lộn suốt một đêm không ngủ được. Có lẽ nó hối hận lắm vì đã từng đối xử không tốt với ông. Lúc này, không chỉ yêu cha mà nó còn rất thương cha nữa.

+ Người đọc đã chứng kiến một cuộc chia tay cảm động sáng hôm sau, trước khi cha nó lên đường Thu cũng có mặt trong buổi đưa tiễn cha nhưng tâm trạng lại hoàn toàn khác trước. “Nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó lại buồn rầu”. Khi đối diện với ông Sáu “Đôi mắt của con bé bỗng xôn xao”. Người đọc cảm nhận được đằng sau nỗi mênh mông xôn xao ấy, đang xáo động biết bao tình cảm.

+ Tiếng gọi ba vỡ ào trong sâu thẳm tâm hồn bé bỏng của con bé. Sự khát khao tình cha con lâu nay kìm nén bỗng bật lên. Bắt đầu là tiếng thét “Ba…a…a” tiếng gọi thân thương, tiếng gọi ông Sáu chờ đợi suốt 9 năm ròng.

+ Thế rồi “Nó vừa kêu vừa chạy xô tới dang tay ôm lấy cổ ba nó”. Nó hôn khắp người ông Sáu, hôn cả vết sẹo dài trên má ông, cái vết sẹo mà trước kia nó ghê sợ và cảm thấy xấu xí vô cùng. Đến bây giờ nó hiểu được vì sao cha nó có sẹo, Thu thương cha nó lắm. Hành động của em như muốn xoa dịu nỗi đau gây ra cho ba. Sau khi nghe ông Sáu nói, “Ba đi rồi ba về với con”, bé Thu thét lên “Không !” hai tay ôm chặt cổ cha, hai chân cấu chặt người cha. Em khóc vì thương cha, vì ân hận đã không phải với cha, vì không biết đến bao giờ mới gặp lại được cha. Lúc này tất cả hành động của Thu đều gấp gáp dồn dập, trái hẳn lúc đầu.

+ Trong tâm hồn cô bé, tình yêu của nó với cha đã có nhiều thay đổi. Ngoài tình yêu còn có tình thương rồi cao hơn cả là niềm tự hào vô bờ bến, niềm kiêu hành vô cùng vì người cha là chiến sĩ, người cha hi sinh tuổi thanh xuân, cống hiến cả cuộc đời cho cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Giờ đây người cha ấy lại tiếp tục đi theo con đường vinh quang mà cả dân tộc đang đi.

3. Kết bài: Tác giả đã rất am hiểu tâm lý trẻ em nên đã diễn tả rất sinh động tâm trạng của bé Thu trong cuộc chia tay đầy cảm động của con bé. Ông còn rất yêu thương trẻ thơ.

V. Nét đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện:

1. Truyện ngắn CLN là tiêu biểu cho đặc điểm trần thuật truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng. Điều tạo sức hấp dẫn của câu truyện là tác giả đã xây dựng một tình huống truyện hết sức chặt chẽ, hấp dẫn xoay quanh những tình huống bất ngờ nhưng tự nhiên và hợp lý. Nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Quang Sáng thoải mái, tự nhiên với giọng điệu thân mật, dân dã.

2. Tác giả đã lựa chọn nhân vật kể chuyện thích hợp. Đồng thời tác giả thành công trong nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật, đặc biệt tâm lý nhân vật trẻ em rất tinh tế. điều đó thể hiện sự nhạy cảm, tấm lòng yêu thương trân trọng của nhà văn đối với con người và tình người.

3. Ngôi kể: Tác giả đã kể chuyện từ nhân vật “tôi” (Bác Ba) người bạn thân chiến đấu của ông Sáu, người chứng kiến toàn bộ câu chuyện. Việc sử dụng ngôi kể này tạo được giọng điệu kể chuyện thủ thỉ, tâm tình, gợi cảm giác chân thực, gần gũi với người đọc, khi cần có thể bày tỏ trực tiếp cảm xúc với thái độ với điều kiện và nhân vật. Câu chuyện trở nên đáng tin cậy. Người kể hoàn toàn điều khiển nhịp kể.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.