Trắc nghiệm: Mệnh đề nào sau đây KHÔNG đúng về đặc điểm tự ý thức của học sinh trung học cơ sở? 

A. Học sinh trung học cơ sở thường tiếp thu một cách tích cực những đánh giá, nhận xét của người khác về mình.

B. Học sinh trung học cơ sở thường có xu hướng tự đánh giá các phẩm chất, năng lực của mình cao hơn hiện thự

C. Học sinh THCS thường tiếp thu tích cực nhận xét, đánh giá của người khác về mình

D. Nhu cầu tự khẳng định bản thân của học sinh trung học phát triển mạnh mẽ, chi phối đến quá trình tự ý thức của học sinh.

Lời giải: 

Đáp án đúng: C. Học sinh THCS thường tiếp thu tích cực nhận xét, đánh giá của người khác về mình

Hãy để Top tài liệu mang đến cho các bạn những kiến thức thêm về đặc điểm tự ý thức của học sinh trung học cơ sở nhé. 

1. Vị trí, ý nghĩa của giai đoạn tuổi học sinh trung học cơ sờ trong sự phát triển con người

– Lứa tuổi HS THCS bao gồm những em có độ tuổi từ 11 – 15 tuổi. Đó là những em đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trưởng THCS.

– Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu niên và nó có một vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển của trẻ em.

– Tuổi thiếu niên có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của cả đời người, được thể hiện ở những điểm sau:

+ Thứ nhất: Đây là thời kỳ quá độ từ tuổi thơ sang tuổi trường thành, thời kỳ trẻ ờ “ngã ba đường ” của sự phát triển. Trong đó có rất nhiều khả năng, nhiều phương án, nhiều con đường để mỗi trẻ em trở thành một cá nhân. Trong thời kỳ này, nếu sự phát triển được định hướng đúng, được tạo thuận lợi thì trẻ em sẽ trở thành cá nhân thành đạt, công dân tốt.

+ Thứ hai: Thời kỳ mà tính tích cực xã hội của trẻ em được phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong việc thiết lập các quan hệ bình đẳng với người lớn và bạn ngang hàng, trong việc lĩnh hội các chuẩn mực và giá trị xã hội, thiết kế tương lai của mình và những kế hoạch hành động cá nhân tương ứng.

+ Thứ ba: Trong suốt thời kỳ tuổi thiếu niên đều diễn ra sự cấu tạo lại, cải tổ lại, hình thành các cẩu trúc mới về thể chất, sinh lý, về hoạt động, tương tác xã hội và tâm lý, nhân cách, xuất hiện những yếu tổ mới của sự trưởng thành. Từ đó hình thành cơ sở nền tảng và vạch chiều hướng cho sự trưởng thành thực thụ của cá nhân, tạo nên đặc thù riêng của lứa tuổi.

+ Thứ tư: Tuổi thiếu niên là giai đoạn khó khăn, phức tạp và đầy mâu thuẫn trong quá trình phát triển.

– Ngay các tên gọi của thời kỳ này: thời kỳ “quá độ”, “tuổi khó khăn”, “tuổi khủng hoảng”… đã nói lên tính phức tạp và quan trọng của những quá trình phát triển diễn ra trong lứa tuổi thiếu niên. Sự phức tạp thể hiện qua tính hai mặt của hoàn cánh phát triển của trẻ. Một mặt có những yếu tổ thức đẩy phát triển tính cách của người lớn. Mặt khác, hoàn cánh sống của các em có những yếu tố kìm hãm sự phát triển tính người lớn: Phần lớn thời gian các em bận học, ít có nghĩa vụ khác với gia đình; nhiều bậc cha mẹ quá chăm sóc trẻ, không để các em phải chăm lo việc gia đình…

Mệnh đề nào sau đây KHÔNG đúng về đặc điểm tự ý thức của học sinh trung học cơ sở?

2. Các điều kiện phát triển tâm lý của học sinh trung học cơ sở

a. Sự phát triển cơ thể

+  Sự phát triển của chiều cao và trọng lượng:

+  Sự phát triển của hệ xương

+  Sự phát triển của hệ cơ

+  Sự phát triển cơ thể của trẻ không cân đối

+  Sự xuất hiện của tuyến sinh dục (hiện tượng dậy thì)

+  Đặc điểm về hoạt động của não và thần kinh cấp cao của thiếu niên

b. Đặc điểm xã hội

Vị thế của thiếu niên trong xã hội: Thiếu niên có những quyền hạn và trách nhiệm xã hội lớn hơn so với HS tiểu học: 14 tuổi các em được làm chứng mình thư. cùng với học tập, HS THCS tham gia nhiều hoạt động xã hội phong phú: giáo dục các em nhỏ; giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng; tham gia các hoạt động tập thể chống tệ nạn xã hội; làm tình nguyện viên; vệ sinh trường lớp, đường phố… Điều này giúp cho HS THCS mở rộng các quan hệ xã hội, kinh nghiệm sổng thêm phong phú, ý thức xã hội được năng cao.

Vị thế của thiếu niên trong gia đình: Thiếu niên được thừa nhận là một thành viên tích cực trong gia đình, được giao một số nhiệm vụ như: chăm sóc em nhỏ, nấu ăn, dọn dẹp… Ở những gia đình khó khăn, các em đã tham gia lao động thực sự, góp phần thu nhập cho gia đình. HS THCS được cha mẹ trao đối, bàn bạc một số công việc trong nhà. Các em quan tâm đến việc xây dựng và bảo vệ uy tín gia đình. Nhìn chung, các em ý thức được vị thế mới của mình trong gia đình và thực hiện một cách tích cực. Tuy nhiên, đa số thiếu niên vẫn còn đi học, các em vẫn phụ thuộc vào cha mẹ về kinh tế, giáo dục… Điều này tạo ra hoàn cảnh có tính hai mặt trong đời sống của thiếu niên trong gia đình.

Vị thế của thiếu niên trong nhà trường THCS: Vị thế của HS THCS hơn hẳn vị thế của HS tiểu học. HS THCS ít phụ thuộc vào giáo viên hơn so với nhi đồng. Các em học tập theo phân môn. Mỗi môn học do một giáo viên đảm nhiệm. Mỗi giáo viên có yêu cầu khác nhau đối với HS, có trình độ, tay nghề, phẩm chất sư phạm và có phong cách giảng dạy riêng đòi hỏi HS THCS phải thích ứng với những yêu cầu mới của các giáo viên. Sự thay đối này có thể tạo ra những khó khăn nhất định cho HS nhưng lại là yếu tổ khách quan để các em dần có được phương thức nhận thức người khác.

3. Sự bắt đầu hình thành và phát triển tự ý thức

Sự tự ý thức của lứa tuổi này được bắt đầu tự sự tự nhận thức hành vì của mình. Lúc đầu các em tự nhận thức những hành vi riêng lẻ, sau đó toàn bộ hành vi của mình. Cuối cùng các em  nhận thức về những phẩm chất đạo đức, tình cách và khả năng của mình.

Theo gia sư tiếng anh thì sự hình thành tự ý thức của các em là một quá trình diễn ra dần dần. Cơ sở đầu tiên của sự tự ý thức của các em là sự nhận xét đánh giá của người khác, nhất là người lớn. Vì thế các em ở đầu lứa tuổi này hình như nhận xét mình bằng con mắt của người khác. Tuổi các em càng nhiều, các em bắt đầu có khuynh hướng độc lập phân tích và đánh giá nhân cách của mình hơn.

Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy, không phải toàn bộ những nét tính cách được các em ý thức cũng một lúc. Những phẩm chất được các em ý thức được trước đó, đó là những phẩm chất có liên quan đến nhiệm vụ học tập. Ví dụ như tính kiên trì, sự chú ý, sự chuyên cần…

+ Sau đó là thể hiện thái độ với người khác.

Ví dụ: tình đồng chí, tình bạn, tính vị tha, tính nhẫn nại, tính bướng bỉnh..

+ Tiếp đến là những phẩm chất thể hiện thái độ đối với bản thân.

Ví dụ: tính khiêm tốn, tính tự cao, tính khoe khoang…

+ Cuối cùng là những nét tính cách tổng hợp thể hiện nhiều mặt của nhân cách.

Ví dụ: tình cảm trách nhiệm, lòng tự trọng, danh dự, tính nguyên tắc, tính mục đích,…

Sở dĩ quá trình hình thành sự tự ý thức diễn ra như trên vì:

+ Hoạt động học tập và thái độ đối với mọi người được các em xác định là mặt biểu hiện chủ yếu của nhân cách.

+ Những nét tính cách như tính khiêm tốn, tính tự cao, tính khoe khoang…là những nét tích cách các em dễ nhận thấy khi giao tiếp với mọi người.

+ Còn những nét tính cách như tình cảm trách nhiệm, tính nguyên tắc, tính mục đích là những nét tính cách phức tạp tổng hợp do đó mà các em khó nhận thấy ngay.

Đặc điểm quan trọng về tự ý thức của lứa tuổi này là sự mâu thuẫn giữa nhu cầu tìm hiểu bản thân với kỹ năng chưa đầy đủ để phân tích đúng đắn sự biểu lộ của nhân cách. Trên cơ sở đó này sinh những xung đột do mâu thuẫn giữa mức độ kì vọng của các em với địa vị thực tế của chúng trong tập thể, mâu thuẫn giữa thái độ của các em với bản thân, đối với  những phẩm chất nhân cách của mình và thái độ của các em đối với người lớn, đối với bạn bè cùng lứa tuổi. Vì thế A.G.Coovalia nhận xét rằng, sự đánh giá đúng đắn nhân cách của lứa tuổi này quan trọng như thế nào, để đừng gây cho các em hai rung cảm trái ngược nhau: tự cao và kém cỏi.

Ý nghĩa quyết định nhất để phát triển tự ý thức của lứa tuổi học sinh trung học cơ sở là cuộc sống tập thể của các em, nơi nhiều mối quan hệ giá trị đúng đắn. Mối quan hệ này sẽ hình thành ở các em lòng tự tin vào sự tự đánh giá của mình là những yêu cầu ngày càng cao đối với hành vi, hoạt động của các em, nguyện vọng tìm kiếm một vị trí trong hệ thống những mối quan hệ xã hội đúng đắn với các em, cũng đồng thời giúp cho sự phát triển về mặt tự ý thức của các em.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *