Trắc nghiệm: Một trong những nội dung biện pháp phòng chống thiên tai, lũ lụt là gì?

A. Giao đất, giao rừng cho dân ở những khu vực trọng điểm

B. Trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ và rừng ngập mặn

C. Tăng cường công tác quản lí nhà nước trên các lĩnh vực xã hội

D. Nắm được tình hình bão, lũ lụt để chủ động phòng chống hiệu quả

Lời giải: 

Đáp án đúng: B. Trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ và rừng ngập mặn

Hãy để Top tài liệu mang đến cho các bạn những kiến thức thêm về các biện pháp phòng chống thiên tai, lũ lụt. 

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu, thường xuyên phải chống chịu với nhiều loại thiên tai, nhất là bão, lũ, sạt lở đất, hạn hán, xâm nhập mặn. Suốt hơn 30 năm qua, mỗi năm trung bình thiên tai làm gần 400 người chết và mất tích, thiệt hại về kinh tế khoảng 1-1,5% GDP.

Để phòng, tránh và giảm nhẹ thiệt hại thiên tai có hiệu quả, cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:

I. Hậu quả của thiên tai, lũ lụt là gì ?

– Gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước ở những khu vực xuất hiện lũ lụt. Khi thảm họa này xảy ra, lượng nước lũ dâng cao bao phủ phần đất liền, mang theo cả bùn đất, chất thải công nghiệp lẫn sinh hoạt trong dòng nước lũ. Sau khi tràn vào đất liền, lượng nước lũ có khả năng dung nhập với nước sông, cũng có khả năng dung nhập vào nguồn nước sinh hoạt hoặc các nguồn nước khác.

– Lũ lụt dẫn đến các loại bệnh cho con người. Do tình trạng ô nhiễm nguồn nước, người dân vùng lũ sẽ thiếu nguồn nước sinh hoạt, hoặc nước sinh hoạt đã bị nhiễm bẩn trong khi lũ dâng cao, tạo điều kiện cho các dịch bệnh truyền nhiễm lây lan và phát tán nhanh chóng. Trong đó dịch tả và ghẻ lở là hai loại bệnh thường gặp nhất khi xảy ra hiện tượng lũ lụt.

– Trong số các dạng lũ lụt, lũ quét là thảm họa điển hình gây ra con số thương vong cao nhất, cùng lúc cướp đi sinh mạng của nhiều người và cuốn trôi nhiều tài sản như hoa màu, nhà cửa, gia súc,..phá hoại cơ sở vật chất, giao thông đường bộ.

Một trong những nội dung biện pháp phòng chống thiên tai, lũ lụt là gì?

II. Thực trạng thiên tai, lũ lụt tại Việt Nam 

– Nhìn lại năm 2020, Việt Nam đã phải trải qua một năm thiên tai khốc liệt chưa từng có. Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai, năm 2020 đã xảy ra 16/22 loại hình thiên tai trên phạm vi cả nước, trong đó có 14 cơn bão và 01 áp thấp nhiệt đới. Đặc biệt, thời điểm từ giữa tháng 9 đến giữa tháng 11/2020 (tức chỉ trong 2 tháng), khu vực duyên hải miền Trung đã phải hứng chịu 9 cơn bão và 01 áp thấp nhiệt đới với cường độ rất mạnh, đạt mức kỷ lục (tương đương năm 1970). Trong đó, cơn bão số 9 (Molave) đã đạt đến cấp siêu bão và được đánh giá mạnh nhất trong 20 năm trở lại đây.

– Ảnh hưởng dồn dập của các cơn bão kết hợp với hình thái thời tiết cực đoan đã gây mưa lớn dị thường trên phạm vi rộng. Năm 2020 có 265 trận dông, lốc sét, mưa lớn diễn ra trên 49 tỉnh, thành phố, trong đó phải kể đến đợt mưa lũ lớn lịch sử trong tháng 10 với lượng mưa cao ngang mốc lịch sử 20 năm trước, khiến nhiều tỉnh miền Trung (Quảng Bình, Huế, Quảng Trị) chìm trong biển nước trong gần một tháng. Bên cạnh đó có 20 trận lũ quét, sạt lở đất; 90 trận động đất. Tình trạng “bão chồng bão,”“lũ chồng lũ” đã dẫn đến tình trạng ngập lụt trên diện rộng và gây sạt lở nghiêm trọng tuyến biển dọc miền Trung. Cao điểm là vào ngày 12/10 và 19/10 đã có trên 317 nghìn hộ (1,2 triệu nhân khẩu) tại 07 tỉnh miền Trung bị ngập lụt, có điểm ngập từ 5-9m trong thời gian kéo dài gần nửa tháng.

– Khác với quy luật nhiều năm, xâm nhập mặn mùa khô 2019-2020 tại đồng bằng sông Cửu Long đã diễn ra gay gắt, xuất hiện sớm hơn so với trung bình nhiều năm gần 3 tháng, kéo dài hơn 2-2,5 lần so với mùa khô 2015-2016. Độ mặn ở một số cửa sông thuộc khu vực này liên tục duy trì ở mức đỉnh suốt từ tháng 2 đến tháng 5; chiều sâu xâm nhập mặn vượt lịch sử năm 2016. Ngược lại, một số địa phương thuộc khu vực Trung Bộ, Tây Nguyên phải đối mặt với tình trạng hạn hán với mực nước xuống mức thấp nhất trong chuỗi số liệu quan trắc so với cùng thời kỳ. Lưu lượng dòng chảy trung bình trên phần lớn các sông phổ biến ở mức thiếu hụt so với trung bình nhiều năm cùng thời kỳ từ 20-65%, một số nơi thiếu hụt trên 75%. Hạn hán đặc biệt xảy ra gay gắt tại các tỉnh từ Phú Yên đến Bình Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông.

III. Các biện pháp phòng chống 

+ Tìm các biện pháp thích ứng để giảm nhẹ thiệt hại, chấp hành nghiêm các văn bản pháp luật về công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai. Thường xuyên theo dõi thông tin cảnh báo tình hình mưa lũ tại nơi mình đang sống để chủ động đối phó. Chuẩn bị thuyền, phao, bè, mảng, vật nổi; gia cố nhà làm gác lửng, lối thoát trên mái nhà để ở tạm, cất giữu đồ đạc đề phòng lũ tiếp tục lên cao.

+ Tích cực tham gia các chương trình phát triển kinh tế xã hội có liên quan đến phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai, làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, làm cho mọi người, mọi nhà, mọi địa phương nhận thức sâu sắc tác hại của thiên tai, nhận diện một cách đầy đủ các loại hình thiên tai và những diễn biến của nó để chủ động phòng, chống một cách có hiệu quả, với phương châm “Phòng, tránh là chính, tự cứu mình là chính”. Công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai làm cho mọi ng­ời thấy rõ nguyên nhân tác hại của thiên tai, nâng cao ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng trong phòng chống giảm nhẹ thiên tai.

+ Nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai. – Các nghiên cứu về sạt lở sông biển, phòng, chống lũ lụt, hạn hán cho đồng bằng sông Hồng. – Mô hình nhà an toàn trong thiên tai. Gia cố, chằng chống nhà cửa, cắt tỉa cành cây; xác định ví trí an toàn để trú ẩn; chủ động sơ tán khỏi các nhà không đảm bảo an toàn, vùng ven biển, cửa sông đề phòng nước dâng.

+ Quy hoạch và xây dựng các công trình để vừa cấp nước cho các nhu cầu KT-XH, vừa điều tiết nước lũ về mùa mưa; củng cố các tuyến đê sông, suối, ao, hồ thủy lợi… Xây dựng các trạm bơm tưới tiêu, các công trình phân lũ… trồng rừng đầu nguồn. Rừng phòng hộ, rừng ngập mặn, tạo hố chứa n­ước cắt lũ, chống hạn, củng cố và nâng cấp hệ thống đê điều.

+ Ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư, củng cố các công trình, cơ sở hạ tầng phòng, chống thiên tai; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ; huy động hiệu quả nguồn lực xã hội trong giảm nhẹ, khắc phục hậu quả, khôi phục và ổn định sản xuất, đời sống nhân dân sau thiên tai … khi có thiên tai xảy ra, cần huy động tổng hợp các lực lượng, nhất là lực lượng chuyên nghiệp, lực lượng vũ trang, thanh niên tình nguyện và nhân dân trên địa bàn thực hiện công tác cứu hộ, cứu nạn, cứu trợ; phải chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện và các yếu tố đảm bảo

+ Tập trung nâng cao năng lực công tác dự báo, cảnh báo thiên tai; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo ứng phó với thiên tai từ cấp Trung ương đến cơ sở; từng bước hiện đại hóa lực lượng phòng, chống thiên tai; Cần có quy định để các ngành, các cấp, các địa phương khi xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH cần lấy quy hoạch phòng, chống bão, lũ làm một tiêu chí quan trọng để chọn phương án phù hợp.

+ Công tác cứu hộ cứu nạn

Từng ng­ười và gia đình cần chuẩn bị các phương tiện cứu hộ cứu nạn theo sự hướng dẫn của chính quyền địa ph­ương, sẵn sàng sơ tán đến nơi an toàn nhằm hạn chế tối đa thiệt hại do thiên tai gây ra. G

Công tác cứu trợ khắc phục hậu quả.

– Cấp cứu ng­ười bị nạn.

– Làm vệ sinh môi tr­ường.

– Giúp đỡ các gia đình bị nạn ổn định đời sống.

– Khôi phục sản xuất và sinh hoạt.

Khi có thiên tai xảy ra, cần huy động tổng hợp các lực lượng, nhất là lực lượng chuyên nghiệp, lực lượng vũ trang, thanh niên tình nguyện và nhân dân trên địa bàn thực hiện công tác cứu hộ, cứu nạn, cứu trợ; phải chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện và các yếu tố đảm bảo. Sau thiên tai, cần đánh giá chính xác thiệt hại, huy động nội lực với tinh thần “lá lành đùm lá rách” và coi trọng sự cứu trợ, giúp đỡ từ bên ngoài. Tổ chức tốt việc tiếp nhận, quản lý, phân phối nguồn cứu trợ đảm bảo kịp thời, đúng đối tượng, công khai, dân chủ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *