Nội dung nào sau đây về các vùng biển không đúng với quy định của Công ước Liên hợp quốc

Trắc nghiệm: Nội dung nào sau đây về các vùng biển không đúng với quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển?

A. Từ đường cơ sở ra ngoài 12 hải lí là vùng lãnh hải

B. Từ mép ngoài lãnh hải ra ngoài 12 hải lí là vùng tiếp giáp lãnh hải

C. Từ mép ngoài vùng tiếp giáp lãnh hải ra biển là vùng đặc quyền kinh tế cách 200 hải lí so với đường cơ sở

D. Tính từ vùng lãnh hải ra biển 200 hải lí lãnh hải là vùng thềm lục địa

Đáp án đúng: C. Từ mép ngoài vùng tiếp giáp lãnh hải ra biển là vùng đặc quyền kinh tế cách 200 hải lí so với đường cơ sở

Cùng Top tài liệu tìm hiểu về vấn đề này nhé!

1. Nội dung của công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển

Một số nội dung quan trọng đã được quy định trong Công ước của LHQ về Luật Biến năm 1982 như:

– Quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền đầy đủ đối với vùng lãnh hải mà họ có quyền thiết lập với chiều rộng không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Tuy vậy chủ quyền này không phải là tuyệt đối vì tầu thuyền nước ngoài được phép “đi qua không gây hại” trong vùng lãnh hải.

– Phạm vi của lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (ĐQKT) và thềm lục địa được xác định dựa vào và xuất phát từ lãnh thổ đất liền theo nguyên tắc “đất thống trị biển” hay dựa vào những hải đảo được xác định theo những tiêu chuẩn cụ thể do Công ước quy định; nhưng đối với đá không thích hợp cho con người sinh sống hoặc không có đời sống kinh tế riêng thì không có vùng ĐQKT hoặc thềm lục địa.

– Quốc gia quần đảo, được tạo thành bởi nhóm hoặc các nhóm đảo liên quan, gần gũi về mặt địa lý, địa chất, lịch sử… và những vùng nước tiếp liền, thì có chủ quyền đối với vùng biển nằm trong các đường cơ sở quần đảo thẳng được vẽ bởi các điểm xa nhất của các đảo, vùng nước bên trong các đảo được gọi là vùng nước quần đảo; các quốc giá này có thể thiết lập các đường đi lại cho tàu thuyền và hàng không, trong đó các quốc gia khác có thể được hưởng quyền qua lại các quần đảo bằng các tuyến đường biển đã định.

– Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với vùng ĐQKT rộng tối đa 200 hải lý tính từ đường cơ sở, đối với tài nguyên thiên nhiên và một số hoạt động kinh tế và thực hiện quyền tài phán đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường. Các quốc gia khác có quyền tự do hàng hải, tự do hàng không và tự do đặt dây cáp ngầm và đường ống.

Nội dung nào sau đây về các vùng biển không đúng với quy định của Công ước Liên hợp quốc

– Quốc gia không có biển hoặc bất lợi về địa lý có quyền tham gia trên cơ sở công bằng trong việc khai thác một phần thích hợp trong số phần dư dôi của các tài nguyên sống trong vùng ĐQKT của quốc gia ven biển trong cùng khu vực hoặc tiểu khu vực; các loài di cư như cá hoặc sinh vật biển được bảo vệ đặc biệt.

– Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với thềm lục địa (khu vực đáy và lòng đất dưới đáy biển của quốc gia ven biển) trong việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa. Thềm lục địa có thể mở rộng ra ít nhất là 200 hải lý từ đường cơ sở và nếu sự mở rộng vượt quá 200 hải lý thì thềm lục địa có thể mở rộng ra đến một giới hạn được tính toán theo những tiêu chuẩn địa chất, địa mạo đáy biển theo quy định của Công ước, nhưng không vượt quá khoảng cách 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc các đường đẳng sảnh 2.500m một khoảng cách không vượt quá 100 hải lý. Quốc gia ven biển chia sẻ với cộng đồng quốc tế phần lợi ích thu được do khai thác tài nguyên từ bất cứ khu vực nào trong thềm lục địa của quốc gia đó khi nó vượt quá 200 hải lý. Ủy ban ranh giới thềm lục địa (được thành lập theo Phụ lục II trong Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982) sẽ có ý kiến đối với quốc gia liên quan về ranh giới ngoài của thềm lục địa khi nó mở rộng quá 200 hải lý.

– Tất cả các quốc gia đều có quyền tự do truyền thống về hàng hải, bay qua, nghiên cứu khoa học và đánh cá trên vùng biển quốc tế. Các quốc gia có trách nhiệm hợp tác với nhau trong việc thông qua các biện pháp để quản lý và bảo tồn các tài nguyên sống trên biển.

– Các quốc gia có các vùng biển và thềm lục địa nằm trong biển kín hoặc nửa kín cần hợp tác với nhau trong việc quản lý tài nguyên sinh vật, có chính sách và hoạt động về môi trường cũng như nghiên cứu khoa học. Các quốc gia không có biển có quyền tiếp cận với biển và được tự do quá cảnh thông qua nước quá cảnh để ra biển. Các quốc gia phải ngăn chặn và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra do sự vi phạm nghĩa vụ quốc tế của mình để kiềm chế những sự ô nhiễm đó.

– Tất cả các nghiên cứu khoa học trong vùng ĐQKT và thềm lục địa phải có sự đồng ý của quốc gia ven biển. Tuy vậy, hầu như trong tất cả mọi trường hợp, quốc gia ven biển có trách nhiệm đồng ý với đề nghị của các quốc gia khác khi việc nghiên cứu được tiến hành vì mục đích hòa bình và đã thực hiện một số yêu cầu chi tiết. Các quốc gia cam kết tăng cường phát triển và chuyển giao kỹ thuật biển trong những điều kiện “công bằng và hợp lý” có tính đến đầy đủ những lợi ích hợp pháp.

– Các quốc gia thành viên phải giải quyết bằng biện pháp hoà bình các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước. Một trong những biện pháp hòa bình đó là có thể đưa tranh chấp ra các cơ quan tài phán quốc tế theo quy định của Công ước.

– Sau khi Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 ra đời và có hiệu lực, các quốc gia ven biển đã ra các tuyên bố để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với những vùng biển được mở rộng theo quy định của Công ước Quy chế pháp lý đối với các vùng biển và thềm lục địa đã trở thành nội dung có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan. Lưu thông hàng hải qua vùng lãnh hải và các dải hẹp giờ đây đã được điều chỉnh dựa trên các nguyên tắc pháp lý.

– Các quốc gia ven biển đã tận dụng các điều khoản lợi thế cho phép mở rộng vùng ĐQKT ra tới 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Quyền của các quốc gia không có biển được đi ra biển, tiếp xúc với biển cũng được quy định một cách rõ ràng. Quyền được tiến hành các nghiên cứu khoa học biển giờ đây được dựa trên các nguyên tắc mà không thể vì lý do gì để từ chối. Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương đã được thành lập năm 1994, đang thực hiện chức năng tổ chức và kiểm soát các hoạt động dưới biển sâu ngoài vùng thuộc quyền tài phán quốc gia, nhằm điều hành việc khai thác và bảo tồn các nguồn tài nguyên của biển. Toà án Luật Biển quốc tế cũng đã được thành lập năm 1996 và có quyền lực để giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển phát sinh từ việc giải thích và áp dụng Công ước.

Tuy nhiên, cần phải nói thêm rằng, phần XI của Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 liên quan đến quy chế pháp lý đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia (Công ước gọi chung là “Vùng”), đặc biệt là việc khai thác các quặng nằm sâu dưới đáy đại dương, đã làm dấy lên nhiều lo ngại từ các nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là Mỹ. Để đạt được sự tham gia rộng rãi hơn của các nước đối với Công ước, Tổng Thư ký LHQ đã chủ động tiến hành một loạt các cuộc tham vấn không chính thức giữa các quốc gia để giải quyết các lo ngại này. Sự tham vấn đã kết thúc bằng việc các nước đạt được thoả thuận vào tháng 7/1994, gọi là “Thỏa thuận liên quan đến việc thực hiện phần XI của Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982”. Thỏa thuận này được coi là một bộ phận của Công ước và đã mở đường cho tất cả các nước tham gia hoặc phê chuẩn để trở thành thành viên của Công ước.

2. Tìm hiểu về công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS), cũng gọi là Công ước Luật biển hay cũng được những người chống đối nó gọi là Hiệp ước Luật biển, là một hiệp ước quốc tế được tạo ra trong Hội nghị về luật biển Liên Hợp Quốc lần thứ 3 diễn ra từ năm 1973 cho đến 1982 với các chỉnh sửa đã được thực hiện trong Hiệp ước Thi hành năm 1994.

Công ước Luật biển là một bộ các quy định về sử dụng các đại dương của thế giới, 70% diện tích bề mặt Trái Đất. Công ước đã được ký kết năm 1982 để thay thế cho 4 hiệp ước năm 1958 đã hết hạn. UNCLOS có hiệu lực từ năm 1994, và cho đến tháng 10 năm 2014, có 167 quốc gia và Cộng đồng châu Âu đã tham gia Công ước này. Hoa Kỳ không tham gia vì nước này tuyên bố rằng hiệp ước này không có lợi cho kinh tế và an ninh của Mỹ.

Công ước được coi là một trong những thành tựu có ý nghĩa nhất trong lĩnh vực luật pháp quốc tế của thế kỷ 20 và Công ước đã tạo ra một trật tự pháp lý mới trên biển, tương đối công bằng và được thừa nhận rộng rãi. Công ước này được Tommy T.B. Koh – Chủ tịch Hội nghị Liên hợp quốc lần thứ 3 về Luật Biển mệnh danh là “Bản Hiến pháp cho đại dương”.

Sau khi UNCLOS 1982 được thông qua ngày 30/4/1982, Việt Nam là một trong 107 quốc gia tham gia ký Công ước tại Montego Bay. Ngày 23/6/1994, Quốc hội Việt Nam đã ra Nghị quyết về việc phê chuẩn văn kiện pháp lý quan trọng này. Điểm 1 trong Nghị quyết nêu rõ: “Bằng việc phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển”.

Tham gia UNCLOS 1982, Việt Nam, quốc gia ven biển, được thừa nhận có lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, thềm lục địa 26 rộng ít nhất 200 hải lý và có thể mở rộng tới 350 hải lý tính từ đường cơ sở. Diện tích các vùng biển và thềm lục địa mà Việt Nam được hưởng theo quy định của Công ước rộng gấp hơn 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *