Hướng dẫn Soạn Sử 10 CD Bài 15: Một số thành tựu văn minh Đại Việt, đầy đủ bám theo nội dung SGK Lịch sử 10 Cánh diều mới nhất.

1. Chính trị

1.1. Tổ chức bộ máy nhà nước

Đọc thông tin và quan sát Sơ đồ 15, hãy nêu những thành tựu tiêu biểu về chính sách của nền văn minh Đại Việt.

Câu trả lời:

Những thành tựu tiêu biểu về chính sách của nền văn minh Đại Việt:

– Trải qua các triều đại, tổ chức bộ máy nhà nước của Đại Việt không ngừng được củng cố hoàn thiện từ trung ương đến địa phương.

+ Trung ương: Vua đứng đầu đất nước. Giúp việc cho vua là Quan đại thần (Thái sư, Thái úy,…); Các cơ quan văn phòng, hành chính, giám sát, chuyên môn.

+ Địa phương: Đạo/thừa tuyên; phủ; huyện/châu; xã, phường, sách.

– Việc thành lập cơ quan hành chính, pháp lí, chuyên môn, giám sát,….thể hiện vai trò, tổ chức, quản lí của nhà nước ngày càng chặt chẽ, tiêu biểu là tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê sơ (đặc biệt là dưới triều vua Lê Thánh Tông).

1.2. Luật pháp

Đọc thông tin, tư liệu, hãy nêu và phân tích vai trò của luật pháp đối với sự phát triển của nền văn minh Đại Việt.

Câu trả lời:

Vai trò của luật pháp đối với sự phát triển của nền văn minh Đại Việt:

– Nhà nước tăng cường quản lí xã hội thông qua luật pháp. Năm 1002, nhà Tiền Lê định luật lệ. Năm 1042, vua Lý Thái Tông ban hành bộ Hình thư. Đây là bộ luật thành văn đầu tiên của Đại Việt, đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử pháp quyền Việt Nam, là bước tiến của văn minh Đại Việt.

– Năm 1230, vua Trần Thái Tông cho soạn bộ Hình luật. Năm 1483, với sự ra đời của bộ Quốc triều hình luật dưới thời Lê sơ, luật pháp trở thành hệ thống chuẩn mực nhằm duy trì và bảo vệ quyền lợi của tầng lớp thống trị cũng như trật tự xã hội. Năm 1811, vua Gia Long cho biên soạn bộ Hoàng triều luật lệ, ban hành năm 1815, được thi hành trong suốt các triều vua nhà Nguyễn.

– Nội dung chủ yếu của luật pháp qua các triều đại phong kiến Đại Việt là đề cao tính dân tộc và chủ quyền quốc gia; bảo vệ quyền lực của vua, quý tộc, quan lại; bảo vệ sức kéo trong nông nghiệp. Ngoài ra, còn bảo vệ quyền lợi của nhân dân, trong đó có quyền lợi của phụ nữ.

2. Kinh tế

2.1. Nông nghiệp

Đọc thông tin và tư liệu hãy:

– Nêu những thành tựu tiêu biểu về nông nghiệp của nền văn minh Đại Việt.

– Phân tích tác động của những thành tựu trong lĩnh vực nông nghiệp đối với sự phát triển của nền văn minh Đại Việt.

Câu trả lời:

– Những thành tựu tiêu biểu về nông nghiệp của nền văn minh Đại Việt:

+ Nhà nước thực hiện chính sách quan tâm, chăm lo phát triển sản xuất nông nghiệp như đắp đê, tổ chức khai hoang, quân điền, “ngụ binh ư nông”,…Trong triều đình cũng hình thành những chức quan quản lí, giám sát và khuyến khích sản xuất nông nghiệp. Những chính sách của nhà nước tạo điều kiện cho nông dân có ruộng đất canh tác.

+ Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo với cây trồng chính là lúa nước. Người dân còn trồng nhiều cây lương thực như ngô, khoai, sắn,….Phương thức và kĩ thuật canh tác có những bước tiến mới. Việc sử dụng công cụ lao động bằng sắt, sức kéo của trâu bò và thâm canh hai, ba vụ lúa trong một năm trở nên phổ biến, góp phần tăng năng suất lao động, đảm bảo đời sống người dân.

+ Công cuộc khai hoang, phục hóa, lấn biển làm tăng diện tích trồng trọt, lập thêm nhiều làng mới, góp phần mở rộng lãnh thổ, tăng cường khả năng phòng thủ đất nước.

+ Nhà nước tăng cường vận động nhân dân tham gia đắp đê phòng lụt trên quy mô lớn, hình thành hệ thống đê điều, thủy lợi hoàn chỉnh trong cả nước.

– Tác động của những thành tựu trong lĩnh vực nông nghiệp đối với sự phát triển của nền văn minh Đại Việt: Tiếp tục phát triển văn minh nông nghiệp trồng lúa nước.

2.2. Thủ công nghiệp

Đọc thông tin và quan sát Hình 15.2, hãy nêu những thành tựu tiêu biểu của thủ công nghiệp Đại Việt. Phân tích tác động của thủ công nghiệp với nền văn minh Đại Việt.

Câu trả lời:

– Những thành tựu tiêu biểu của thủ công nghiệp Đại Việt:

+ Thủ công nghiệp truyền thống tiếp tục được duy trì và phát triển ở các địa phương với nhiều ngành nghề (dệt lụa, làm đồ gốm, đồ trang sức, rèn sắt, đúc đồng,…). Nhiều nghề khác xuất hiện như làm tranh sơn mài, làm giấy, khắc bản in,…

+ Thế kỉ XVI-XVII, có nhiều làng nghề thủ công nổi tiếng cả nước như dệt La Khê, gốm Bát Tràng,…với sản phẩm phong phú, đa dạng, tinh xảo.

+ Thủ công nghiệp nhà nước do triều đình quản lí trực tiếp. Các hoạt động sản xuất chủ yếu là đúc tiền kim loại, đóng thuyền lớn, sản xuất vũ khí cho quân đội,….

+ Sự phát triển của thủ công nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong nước, vừa tạo ra được những mặt hàng quan trọng để trao đổi với thương nhân nước ngoài.

– Tác động của thủ công nghiệp với nền văn minh Đại Việt: Thúc đẩy văn minh Đại Việt phát triển dựa trên sự kế thừa văn minh Văn Lang – Âu Lạc, vừa có sự trao đổi, giao lưu với nước ngoài.

2.3. Thương nghiệp

Đọc thông tin và quan sát Hình 15.3, hãy:

– Nêu những thành tựu tiêu biểu của thương nghiệp Đại Việt.

– Nêu vai trò của đô thị đối với sự phát triển của nền văn minh Đại Việt.

Câu trả lời:

– Những thành tựu tiêu biểu của thương nghiệp Đại Việt:

+ Chợ làng, chợ huyện được hình thành và phát triển mạnh, hoạt động buôn bán giữa các làng, các vùng trong nước diễn ra nhộn nhịp. Kinh đô Thăng Long với 36 phố phường trở thành trung tâm buôn bán sầm uất dưới thời Lý, Trần, Lê sơ.

+ Hoạt động trao đổi, buôn bán với nước ngoài bước đầu phát triển với nhiều mặt hàng phong phú. Dưới thời Lý, Trần, Lê sơ các địa điểm trao đổi hàng hóa với nước ngoài được hình thành ở vùng biên giới.

+ Việc thông thương với nước ngoài góp phần mở rộng thị trường trong nước và thúc đẩy sự hưng thịnh của các đô thị và cảng thị, tiêu biểu là Thăng Long, Phố Hiến,…

– Vai trò của đô thị đối với sự phát triển của nền văn minh Đại Việt: thúc đẩy buốn bán, mở rộng thị trường trong nước.

3. Văn hóa

3.1. Tư tưởng, tôn giáo, tín ngưỡng

Đọc thông tin và quan sát Hình 15.4, hãy nêu những thành tựu tiêu biểu về tư tưởng, tôn giáo của văn minh Đại Việt.

Câu trả lời:

Những thành tựu tiêu biểu về tư tưởng, tôn giáo của văn minh Đại Việt:

– Tư tưởng:

+ Tư tưởng yêu nước, thương dân được xem là tiêu chuẩn đạo đức cao nhất để đánh giá con người và các hoạt động xã hội, được biểu hiện thông qua các chính sách của nhà nước trong việc quan tâm đến sản xuất và đời sống nhân dân. Đó là cội nguồn của tư tưởng “lấy dân làm gốc”.

+ Nho giáo phát triển gắn liền với hoạt động học tập, thi cử từ thời Lý, Trần. Đến thời Lê sơ, Nho giáo được nâng lên địa vị độc tôn, trở thành hệ tư tưởng chính thống của nhà nước quân chủ, góp phần vào quan trọng vào việc đào tạo đội ngũ trí thức, quan lại và bồi dưỡng những người hiền tài. Nho sĩ trở thành một lực lượng quan trọng trong triều đình.

– Tôn giáo:

+ Phật giáo du nhập từ thời kì Bắc thuộc, phát triển mạnh mẽ trong buổi đầu độc lập và trở thành quốc giáo thời Lý, Trần. Các vua kế tiếp nhau dựng chùa, đúc chuông. Ở các làng, chùa trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa, vừa là nơi dạy chữ, vừa là nơi tổ chức hội hè.

+ Đạo giáo được duy trì, phát triển trong dân gian và được các triều đại phong kiến coi trọng, đặc biệt là thời Đinh, Tiền Lê, Lý.

+ Trong các thế kỉ XIII-XVI, Hồi giáo, Công giáo du nhập vào Đại Việt.

– Tín ngưỡng:

+ Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt tiếp tục được duy trì.

+ Tín ngưỡng thờ thành hoàng ngày càng phổ biến ở các làng, xã.

+ Ngoài ra, tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ các anh hùng, tổ nghề,….cũng phát triển, tạo nên truyền thống văn hóa tốt đẹp trong cuộc sống.

3.2. Giáo dục

Đọc thông tin, tư liệu và quan sát Hình 15.5, hãy:

– Trình bày những thành tựu tiêu biểu về giáo dục của Đại Việt.

– Nêu vai trò của Văn Miếu – Quốc Tử Giám đối với sự phát triển văn minh Đại Việt.

Câu trả lời:

– Những thành tựu tiêu biểu về giáo dục của Đại Việt:

+ Hệ thống giáo dục được mở rộng, chủ yếu nhằm đào tạo đội ngũ quan lại cho bộ máy chính quyền. Năm, 1070, nhà Lý cho dựng Văn Miếu. Năm 1075, triều đình mở khoa thi đầu tiên để tuyển chọn nhân tài. Năm 1076, vua Lý cho mở Quốc Tử Giám để dạy học cho hoàng tử, công chúa. Từ thời Trần, triều đình lập Quốc học viện cho con em quan lại học tập. Từ thời Lê sơ, con em bình dân học giỏi cũng được đi học, đi thi; hệ thống trường học mở rộng trên cả nước.

+ Về phương thức thi cử, tuyển chọn quan lại, nhà nước chính quy hóa việc thi cử để tuyển chọn người tài, thể lệ thi cử được quy định chặt chẽ, các kì thi được tổ chúc chính quy.

– Vai trò của Văn Miếu – Quốc Tử Giám đối với sự phát triển văn minh Đại Việt: Văn Miếu – Quốc Tử Giám là trung tâm giáo dục và đào tạo thời trung đại. Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã thực sự trở thành Trung tâm giáo dục cao nhất của nước Đại Việt. Ở đây không chỉ là nơi học tập của các nhà quản lý, lãnh đạo đất nước trong tương lai mà việc giáo dục đã được mở rộng. Trường đã được nâng cấp thành Viện, đứng đầu là quan Thượng thư. Tài liệu dùng trong trường là các kinh điển cao cấp của Nho giáo như: Tứ thư, Ngũ kinh. Nho sinh đến đây học tập để chuẩn bị tham gia các kỳ thi đại khoa giành học vị tiến sĩ – học vị học thuật cao nhất lúc bấy giờ. Vai trò là trung tâm giáo dục lớn nhất cả nước của Văn Miếu – Quốc Tử Giám được xác lập và khẳng định từ thời Trần, tuy nhiên việc giáo dục và học tập được mở rộng, quy mô nhất vào thời Hậu Lê. Song song với việc mở rộng đối tượng Nho sinh, nâng cao trình độ học tập tại Quốc Tử Giám, triều đình còn áp dụng nhiều chính sách nhằm đề cao việc học tập, biểu dương thành tích của người học và dạy học tại đó. Ngoài việc đào tạo, Quốc Tử Giám còn có nhiệm vụ Bảo cử Giám sinh với triều đình để bổ dụng làm quan. Hàng năm, 4 tháng trọng, các quan ở Quốc Tử Giám tiến hành khảo hạch Giám sinh, đề cử những người trúng cách đề Bộ lại tuyển dụng khi cần. Văn Miếu – Quốc Tử Giám thời Lê Thánh Tông, có thể nói là một trung tâm giáo dục lớn, xứng tầm một trung tâm đào tạo cao cấp của đất nước. Về mặt kiến trúc, trường có đầy đủ cơ sở vật chất của một trường hiện đại thời đó: có giảng đường, hội trường lớn, ký túc xá cho 300 Giám sinh, nhà kho, thư viện. Về giảng dạy, học tập là những giảng viên, các nhà nho đạo đức trong sáng, học vấn uyên thâm; sinh viên là những người “nghiên cứu sinh” đã đỗ thi hương hoặc trúng từ 1 đến 3 kỳ thi hội (tạm coi tương đương tốt nghiệp đại học bây giờ) đến nhà Giám học tập, rèn luyện để tham gia thi hội và thi đình để trở thành tiến sĩ.

3.3. Chữ viết và văn học

Đọc thông tin, hãy nêu những thành tiêu biểu về văn học và chữ viết của nền văn minh Đại Việt.

Câu trả lời:

Những thành tiêu biểu về văn học và chữ viết của nền văn minh Đại Việt:

– Về chữ viết:

+ Trên cơ sở tiếp thu chữ Hán của người Trung Quốc, người Việt đã sáng tạo ra chữ Nôm để ghi lại tiếng nói của dân tộc.

+ Một số triều đại có những chính sách khuyến khích và đề cao chữ Nôm.

+ Đến thế kỉ XVIII, chữ Quốc ngữ được hình thành từ việc sử dụng, cải biến chữ La-tinh để ghi âm tiếng Việt và từng bước phát triển, trở thành chữ viết chính thức của người Việt ngày nay.

– Về văn học:

+ Văn học chữ Hán phát triển mạnh, đạt nhiều thành tựu rực rỡ, với nhiều tác phẩm như Chiếu dời đô, Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ,….

+ Văn học chữ Nôm xuất hiện từ khoảng thế kỉ XIII và phát triển mạnh từ thế kỉ XV. Nội dung chủ yếu là ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước, con người, phê phán một bộ phận quan lại, cường hào và phản ánh những bất công trong xã hội, đề cao vẻ đẹp con người.

+ Văn học dân gian tiếp tục duy trì và phát triển mạnh mẽ trong các thế kỉ XVI-XVIII. Nội dung chủ yếu là phản ánh tâm tư, tình cảm con người, tình yêu quê hương,….

3.4. Khoa học, kĩ thuật

Đọc thông tin trong Bảng 15, hãy nêu những thành tựu tiêu biểu về khoa học kĩ thuật của nền văn minh Đại Việt và rút ra nhận xét.

Câu trả lời:

– Những thành tựu tiêu biểu về khoa học kĩ thuật của nền văn minh Đại Việt:

+ Sử học: Nhà Trần thành lập Quốc sử viện, nhà Nguyễn thành lập Quốc sử quán. Nhiều bộ sử lớn đc biên soạn như Đại việt sử kí (Lê Văn Hưu), Đại Việt sử kí toàn thư (Ngô Sĩ Liên),…

+ Địa lí: Dư địa chí, Hồng đức bản đồ,….

+ Quân sự: Binh thư yếu lược, Vạn kiếp tông bí truyền thư (Trần Quốc Tuấn),…

+ Y Học: Nam dược thần hiệu (Nguyễn Bá Tĩnh, Tuệ Tĩnh), Hải Thượng y tông tâm lĩnh (Hải Thượng Lãn Ông),….

+ Toán học: Đại thành toán pháp (Lương Thế Vinh), Lập thành toán pháp (Vũ Hữu),….

+ Kĩ thuật: Đúc súng thần cơ, đại bác, đóng thuyền chiến, xây dựng thành lũy,…

– Nhận xét: Đạt được những thành tựu KHKT trên mọi lĩnh vực, toàn diện.

3.5. Nghệ thuật

Đọc thông tin và quan sát Hình 17.5, hãy:

– Trình bày những thành tựu tiêu biểu về nghệ thuật của nền văn minh Đại Việt.

– Nêu giá trị của “An Nam tứ đại khí” đối với nền văn minh Đại Việt.

Câu trả lời:

– Những thành tựu tiêu biểu về nghệ thuật của nền văn minh Đại Việt:

+ Kiến trúc: hệ thống cung, điện, chùa, tháp, thành quách được xây dựng ở nhiều nơi với quy mô lớn và vững chãi. Tiêu biểu là Hoành Thành Thăng Long, thành nhà Hồ, thành Lam Kinh, thành nhà Mạc, đại nội Huế,… Nhiều ngôi chùa có kiến trúc độc đáo được xây dựng như chùa Một Cột, chùa Trấn Quốc,…

+ Điêu khắc: điêu khắc trên đá, gốm thể hiện phong cách đặc sắc, tinh xảo với nhiều loại hình phong phú như hoa văn trang trí sóng nước, hoa sen, hoa cúc,.. Đặc biệt là hình tượng rồng qua các triều đại Lý, Trần, Lê sơ.

+ Âm nhạc: phát triển mạnh với nhiều thể loại (nhạc dân gian, nhạc cung đình,…), nhạc cụ phong phú. Từ thời Lê sơ, âm nhạc cung đình có vai trò quan trọng trong các sự kiện lớn của triều đình. Nghệ thuật sân khấu phát triển với nhiều loại hình như hát chèo, hát tuồng, hát quan họ,…

+ Lễ hội: là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng trong dân gian được duy trì và được tổ chức hằng năm với nhiều loại hình như hội mùa, Tết nguyên đán,….; những trò vui như đấu vật, đua thuyền,…

– Giá trị của “An Nam tứ đại khí” đối với nền văn minh Đại Việt:

+ An Nam tứ đại khí là bốn kỳ quan, bốn vật quốc bảo của nước ta thời Lý, Trần bao gồm: Tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng chùa Quỳnh Lâm và vạc Phổ Minh.  Đây được coi là 4 kỳ quan, 4 quốc bảo, 4 công trình nghệ thuật dưới thời Lý, Trần.

+ Trải qua thăng trầm của lịch sử, tứ đại khí gắn với bốn ngôi chùa danh tiếng đều chung số phận bị thất lạc và phá hủy. Tuy nhiên chúng vẫn hiện hữu trong các sự tích hiện thời, nhắc nhở con cháu Đại Việt về một thời cực thịnh của Phật giáo và những giá trị tự hào dân tộc mà chúng mang lại.

4. Ý nghĩa của văn minh Đại Việt

Đọc thông tin và quan sát Hình 15.8, hãy nhận xét về ưu điểm, hạn chế và phân tích ý nghĩa của nền văn minh Đại Việt.

Câu trả lời:

Nhận xét về ưu điểm, hạn chế và phân tích ý nghĩa của nền văn minh Đại Việt:

– Ưu điểm:

+ Văn minh Đại Việt là nền văn minh nông nghiệp lúa nước, hình thành dựa trên sự kế thừa nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc, tiếp biến các yếu tố của văn minh nước ngoài và phát triển rực rỡ, toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống, cùng với sự trường tồn và phát triển của văn minh Đại Việt.

+ Yếu tố xuyên suốt trong quá trình phát triển của văn minh Đại Việt là truyền thống yêu nước, nhân ái, nhân văn, tính cộng đồng sâu sắc.

– Nhược điểm:

+ Do chính sách “trọng nông ức thương” của một số triều đại nên kinh tế hàng hóa còn nhiều hạn chế.

+ Khoa học kĩ thuật chưa thực sự phát triển.

+ Kinh tế nông nghiệp, thiết chế làng xã và mô hình quân chủ chuyên chế góp phần tạo ra tính thụ động, tư tưởng quân bình, thiếu năng động, sáng tạo của mỗi cá nhân và xã hội.

+ Những hạn chế về tri thức khoa học khiến đời sống tinh thần của cư dân vẫn còn nhiều yếu tố duy tâm.

– Ý nghĩa:

+ Văn minh Đại Việt thể hiện sự sáng tạo và truyền thống lao động bền bỉ của các thế hệ người Việt.

+ Sự phát triển vượt bậc về kinh tế, chính trị, văn hóa của văn minh Đại Việt là tiền đề và điều kiện quan trọng để tạo nên sức mạnh của dân tộc trong các cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, góp phần bảo vệ, giữ gìn và phát huy được những giá trị, thành tựu văn minh cổ.

+ Văn minh Đại việt có giá trị lớn với quốc gia, dân tộc. Một số thành tựu của văn minh Đại Việt được UNESCO ghi danh.

5. Luyện tập

Câu 1. Vẽ sơ đồ tư duy khái quát những thành tựu tiêu biểu của nền văn minh Đại Việt trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa.

Câu 2. Kể tên những thành tựu của nền văn minh Đại Việt còn lưu giữ, tồn tại đến ngày nay mà em biết. Hãy nêu giá trị của các thành tựu đó.

Câu trả lời:

Câu 1. Vẽ sơ đồ tư duy khái quát những thành tựu tiêu biểu của nền văn minh Đại Việt trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa:Soạn Sử 10 CD Bài 15: Một số thành tựu văn minh Đại Việt

Câu 2. Những thành tựu của nền văn minh Đại Việt còn lưu giữ, tồn tại đến ngày nay mà em biết:

– Nông nghiệp trồng lúa nước mang đậm bản sắc dân tộc (yêu nước) và nhân dân mà tinh thần quán xuyến là nhân ái, hoà hợp với tự nhiên, người với người, làng với nước.

– Nhiều làng nghề thủ công nổi tiếng trên cả nước với những sản phẩm đa dạng, phong phú như gốm Bát Tràng (Hà Nội).

– Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tiếp tục được duy trì.

– Văn Miếu – Quốc Tử Giám ngày nay là điểm du lịch văn hóa hấp dẫn du khách, đang có những đóng góp tích cực vào sự phát triển về mọi mặt của thủ đô cũng như của cả nước. Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học tiêu biểu của di tích, năm 1962, Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã xếp hạng Văn Miếu- Quốc Tử Giám là Di tích quốc gia; ngày 10/5/2012, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Văn Miếu – Quốc Tử Giám là di tích quốc gia đặc biệt,….

6. Vận dụng

Câu 3. Hãy giới thiệu với du khách về một thành tựu tiêu biểu của nền văn minh Đại Việt.

Câu 4. Sưu tầm tư liệu về một thành tựu của nền văn minh Đại Việt để thuyết trình với thầy cô, bạn đọc.

Câu trả lời:

Câu 3. Giới thiệu với du khách về một thành tựu tiêu biểu của nền văn minh Đại Việt:

– Bộ luật Hồng Đức là Bộ luật ra đời dưới thời vua Lê Thánh Tông có niên hiệu là Hồng Đức (1470-1497), đây là Bộ luật chính thức của nhà nước Đại Việt thời Lê sơ và hiện còn được lưu giữ đầy đủ. Bộ luật Hồng Đức là tôn gọi thông dụng của Bộ Quốc triều hình luật. Bộ luật Hồng Đức có thể coi là một bộ luật tổng hợp bao gồm nhiều các quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: Lĩnh vực hình sự; lĩnh vực dân sự; luật tố tụng; luật hôn nhân và gia đình; luật hành chính;….

– Bộ luật Hồng Đức được tìm thấy trên hai bài vị ván khắc và một bản chép tay với tiêu đề là Lê triều hình sự. Các tài liệu tìm thấy này đều không có ghi thông tin tên tác giả niên đại, không có lời tựa,…Bộ luật này được ban bố lần đầu tiên trong khoảng những năm 1470 – 1497 dưới thời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu là Hồng Đức. Tuy nhiên qua quá trình nghiên cứu lịch sử một số nhà nghiên cứu cho rằng Bộ luật này được biên soạn và ban hành từ thời vua Lê Thái Tổ (1428) và không ngừng được hoàn chỉnh và trong quá trình hoàn chỉnh các điều khoản của Bộ luật thì có sự đóng góp to lớn của vua Lê Thánh Tông.

– Bộ luật Hồng Đức có ý nghĩa rất lớn trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Pháp luật ấy về cơ bản được duy trì để thi hành ở những thế kỷ sau, cho đến khi nhà Nguyễn ban hành bộ luật Gia Long thì uy tín, tinh thần những điều khoản luật Hồng Đức vẫn còn sống trong dân gian. Bộ luật ấy đã có những quy định tương đối tiến bộ, công nhận cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến một số quyền lợi và phần nào bảo vệ họ đối với thái độ “trọng nam khinh nữ”… Có lẽ vì thế mà chúng ta mới thấy xuất hiện trong lịch sử những Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan… mạnh mẽ, mãnh liệt, khát khao bày tỏ tình cảm, mà cũng sâu sắc, trầm lắng biết bao! Họ lên tiếng cho người phụ nữ. Họ đấu tranh cho người phụ nữ… Và cho đến bây giờ, dưới thời đại Hồ Chí Minh, người phụ nữ đã bình đẳng với nam giới, không còn sự “trọng nam khinh nữ” nữa, quyền lợi của người phụ nữ đã được công nhận và bảo vệ như nam giới, thì chúng ta mới thấy được những quyền lợi của người phụ nữ xưa vẫn còn quá ít ỏi, họ còn bị gò bó, ràng buộc, chi phối bởi biết bao nhiêu nguyên tắc đạo đức phong kiến, những “tam tòng, tứ đức”… Tuy nhiên, phải thấy rằng, nhà nước thời Lê đã bắt đầu nhận thấy vai trò lớn lao của người phụ nữ trong sản xuất và trong cuộc sống. Đó là điều tiến bộ trong các triều đại phong kiến Việt Nam.

Câu 4. Sưu tầm tư liệu về một thành tựu của nền văn minh Đại Việt để thuyết trình với thầy cô, bạn đọc.

– Múa rối nước (hay còn gọi là trò rối nước) là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian độc đáo, sáng tạo mang đậm nét truyền thống của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, ra đời cùng lúc với nền văn hóa Đại Việt. Nghệ thuật múa rối có ở nhiều quốc gia trên thế giới nhưng múa rối nước thì chỉ duy nhất có ở Việt Nam. Theo những nguồn tư liệu khác nhau về nghệ thuật múa rối ở Việt Nam cho thấy, năm 1121 múa rối nước đã được đưa vào biểu diễn để mừng thọ vua, mà minh chứng đó là những dòng chữ Hán được khắc trên tấm bia đá cổ có từ triều đại nhà Lý được đặt tại chùa Long Đọi, xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

– Từ những con rối riêng lẻ của một số nghệ nhân đã phát triển thành những Phường rối với nhiều những tích trò hay, lạ, đẹp mắt rồi được đem ra biểu diễn, thi tài phục vụ nhân dân. Từ đây nghệ thuật múa rối đã trở thành thú chơi tao nhã của người dân đồng bằng sông Hồng. Nghệ thuật múa rối truyền thống của dân tộc Việt Nam gắn liền với những điều kiện tự nhiên, sinh hoạt của người nông dân trồng lúa nước ở đồng bằng Bắc bộ. Với trí tưởng tượng phong phú và óc sáng tạo thông minh của cha ông ta đã góp phần hình thành nên loại hình nghệ thuật múa rối nước. Từ những nét đặc sắc của loại hình nghệ thuật mang yếu tố dân gian, múa rối nước đã nhanh chóng trở thành nghệ thuật truyền thống và được coi là di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là một nét văn hóa truyền thống riêng biệt của dân tộc Việt Nam so với nền nghệ thuật Múa rối của các quốc gia trên toàn thế giới. Múa rối nước thường được diễn vào dịp lễ, hội làng, ngày vui, ngày Tết… Múa rối nước là một loại hình nghệ thuật sân khấu nên nghệ thuật múa rối nước cũng mang tính tổng hợp, đa diện của nhiều thành phần.

– Trong những năm qua, nghệ thuật rối nước của Việt Nam đã và đang được bảo vệ và phát triển tương xứng với tầm vóc của nó trong di sản văn hóa dân tộc. Nhiều đoàn nghệ thuật múa rối nước của Việt Nam đã tham dự một số liên hoan múa rối quốc tế, giành được nhiều giải thưởng cao và đã gây được sự chú ý của khán giả nhiều nước trên thế giới. Múa rối nước đã trở thành niềm tự hào của quốc gia, là niềm kiêu hãnh của Việt Nam trên trường quốc tế.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.