Hướng dẫn Tóm tắt nội dung bài Hồi trống cổ thành kèm Sơ đồ tư duy chi tiết nhất bao gồm hướng dẫn đọc hiểu tác phẩm và cách vẽ sơ đồ tư duy dễ hiểu nhất.

1. Sơ đồ tư duy bài Hồi trống cổ thành

Tóm tắt nội dung bài Hồi trống cổ thành kèm Sơ đồ tư duy

2. Soạn bài Hồi trống cổ thành

Chuẩn bị Soạn bài Hồi trống Cổ Thành

Đề bài:

– Đọc trước đoạn trích Hồi trống Cổ Thành; tìm hiểu thêm thông tin về tác giả La Quán Trung, tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa

– Đọc nội dung giới thiệu sau đây để hiểu bối cảnh đoạn trích:

Tam quốc diễn nghĩa là bộ tiểu thuyết diễn nghĩa lịch sử dài 120 hồi. Tác phẩm chủ yếu kể lại quá trình hình thành, phát triển và diệt vong của ba tập đoàn phong kiến Tào, Ngụy, Lưu, Thục và Tôn Ngô trong gần 100 năm (184-280) của nước Trung Hoa thời cổ.

Ở phần đầu bộ tiểu thuyết, ba nhân vật Lưu Bị, Quan Vân Trường (Quan Công) và Trương Phi, những người lập nên nhà Lưu Thục sau này, gặp nhau, kết nghĩa anh em ở vườn đào, thề cùng nhau sống chết để khôi phục nhà Hán. Ở thời kì đầu loạn lạc, ba anh em gặp rất nhiều khó khăn, mỗi người một ngả. Lưu bị phải theo Viên Thiệu, Quan Công bất đắc dĩ theo Tào Tháo, còn Phương Phi lưu lạc ở Cổ Thành. Đoạn trích sau đây kể lại chuyện quan công sau khi biết Lưu Bị đang ở bên phía Viên Thiệu đã đem hai chị dâu chạy khỏi doanh trại của Tào Tháo, trên đường đi biết tin Trương Phi đã lấy được Cổ Thành nên tìm về đoàn tụ.

Lời giải 

a. Tác giả

– La Quán Trung (1330 – 1400?) tên là La Bản, hiệu Hồ Hải tản nhân, người vùng Thái Nguyên thuộc tỉnh Sơn Tây cũ.

– Ông lớn lên vào cuối thời Nguyên, đầu thời Minh, tính tình cô độc, lẻ loi, thích một mình ngao du đây đó.

– Khi Minh Thái Tổ đánh đuổi được quân Mông Cổ, thống nhất đất nước, ông chuyên sưu tầm và biên soạn dã sử.

– La Quán Trung là người đầu tiên có đóng góp xuất sắc cho trường phái tiểu thuyết lịch sử thời Minh – Thanh ở Trung Quốc.

– Một số tác phẩm như: Tam quốc diễn nghĩa, ông còn viết Tùy đường lưỡng triều chí truyện, Tấn Đường ngũ đại sử diễn nghĩa, Bình yêu truyện…

b. Tác phẩm

– Tam quốc diễn nghĩa ra đời vào đâu thời Minh (1368 – 1644).

– Tác phẩm gồm 120 hồi, kể chuyện một nước chia ba gọi là “cát cứ phân tranh” trong gần 100 năm của nước Trung Quốc thời cổ (thế kỉ II, III). Đó là cuộc phân tranh giữa ba tập đoàn phong kiến quân phiệt: Ngụy – do Tào Tháo cầm đầu chiếm giữ phía bắc từ Trường Giang trở lên gọi là Bắc Ngụy; Thục – do Lưu Bị cầm đầu, chiếm giữ phía tây nam nên gọi là Tây Thục; Ngô – do Tôn Quyền cầm đầu, chiếm giữ phía đông nam gọi là Đông Ngô.

– Đoạn trích thuộc hồi 28 của Tam quốc diễn nghĩa.

Đọc hiểu bài Hồi trống cổ thành

* Trả lời câu hỏi giữa bài: 

Câu 1 (trang 51, SGK Ngữ Văn 10 tập 2):

Đề bài: Thái độ của Trương Phi và Quan Công như thế nào?

Lời giải 

Thái độ của Trương Phi: chẳng nói năng gì, lập tức mặc áo giác, vác mâu lên ngựa, dẫn một nghìn quân, đi tắt ra cửa bắc; mắt tròn xoe, râu vểnh ngược, hò thét như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công:

Thái độ của Quan Công: trông thấy Trương Phi mừng rỡ vô vùng, giao long đao cho Châu Thương cầm, tế ngựa lại đón.

Câu 2 (trang 52, SGK Ngữ Văn 10 tập 2):

Đề bài: Vì sao Quan Công nhắc đến “nghĩa vườn đào”

Lời giải 

– “Nghĩa vườn đào” ở đây có nghĩa là lời thề kết giữa Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi ở vườn đào.

– Quan Công nhắc đến “nghĩa vườn đào” vì chàng ngạc nhiên trước thái độ của Trương Phi khi thấy chàng (hò thét như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công), tưởng rằng Trương Phi đã quên lời thề kết nghĩa ngày xưa sau một quãng thời gian xa cách.

Câu 3 (trang 52, SGK Ngữ Văn 10 tập 2):

Đề bài: Vì sao cách xưng hô giữa Trương Phi và Quan Công đối lập nhau?

Lời giải 

Cách xưng hô giữa Trương Phi và Quan Công đối lập nhau là vì:

– Trương Phi tính tình nóng nảy, ngay thẳng, không chấp nhận sự phản bội, lắt léo, quanh co.

– Dù nặng lòng và coi trọng lời thề sắt son năm xưa nhưng trong suy nghĩ của Trương Phi, Quan Công theo Tào phản bội anh em, còn nhắc “nghĩa vườn đào” là không xứng

→ Tính cách Trương phi có sự cương trực, thẳng thắn nhưng cũng lỗ mãng, thô bạo

– Trong khi đó, Quan Công là người hiểu thời thế, tinh tế và khéo léo, điển hình cho người trượng phu trung nghĩa.

Câu 4 (trang 53, SGK Ngữ Văn 10 tập 2):

Đề bài: Em có bất ngờ với tình huống này không? Vì sao?

Lời giải 

– Tình huống: Đúng lúc cuộc đối thoại giữa Quan Công và Trương Phi căng thẳng nhất thì một toán quân mã của Sái Dương kéo đến.

– Em vừa bất ngờ, vừa thích thú với tình huống này bởi tình huống ấy càng làm mối nghi ngờ về Quan Công trong lòng Trương Phi rõ nét hơn. Từ đó, tình huống truyện được đẩy lên cao trào, gây sự hấp dẫn và khiến người đọc căng thẳng theo từng câu chữ.

Câu 5 (trang 53, SGK Ngữ Văn 10 tập 2):

Đề bài: Khí phách và tài nghệ của Quan Công được thể hiện ra sao?

Lời giải 

– Quan Công không hề nao núng nhận lời Trương Phi chém đầu Sái Dương trong ba hồi trống

– “Quan Công chẳng nói một lời, múa long đao xô lại…chưa dứt một hồi, đầu Sái Dương đã lăn xuống đất.”

– Quan Công bắt một tên lính cầm cờ hiệu, hỏi chuyện đầu đuôi và sai tên lính ấy kể lại cho Trương Phi nghe

→ Tài nghệ, khí phách hơn người.

* Trả lời câu hỏi cuối bài: 

Câu 1 (trang 54, SGK Ngữ Văn 10 tập 2):

Đề bài: Nêu các sự kiện chính của văn bản Hồi trống Cổ Thành. Lí do dẫn đến sự hiểu lầm của Trương Phi đối với Quan Công?

Lời giải 

– Sự kiện chính: Trương Phi hiểu lầm, cho rằng Quan Công hàng tào là bội nghĩa, liền đòi giết Quan Công. Để xua tan mối nghi ngờ, Quan Công đã nhận ngay điều kiện Trương Phi đưa ra: Phải lấy đầu Sái Dương (viên tướng của Tào Tháo) trong ba hồi trống. Chưa dứt một hồi, đầu Sái Dương đã lăn dưới đất. Bấy giờ, Phi mới hiểu được lòng dạ trung thực của Quan Công.

– Lí do: Quan Công vì phải hộ tống hai chị dâu (vợ Lưu Bị) nên tạm hàng Tào Tháo với điều hiện hàng Hán chứ không hàng Tào (vua Hán đang bị Tào khống chế). Tào Tháo tìm cách thu phục Quan Công: ba ngày một tiệc nhỏ, năm ngày một tiệc lớn, lại ban thưởng chức tước, vàng bạc, mỹ nữ…

Câu 2 (trang 54, SGK Ngữ Văn 10 tập 2):

Đề bài: Người kể chuyện đã khắc họa tính cách của Trương Phi và Quan Công thông qua những chi tiết, sự việc, tình huống nào?

Lời giải 

– Trương Phi:

+ Phản ứng của Trương Phi khi nghe xong lời của Tôn Càn: chẳng nói chẳng rằng lập tức mặc áo giáp, vác mâu lên ngựa, dẫn một nghìn quân, đi tắt ra cửa Bắc.

+ Hành động: hò hét như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công, xưng hô mày – tao, lập luận buộc tội Quan Công.

+ Nghĩ Quan Công đem quân đến bắt mình nên đã múa bát xà mâu hăm hở xông lại đâm Quan Công.

+ Yêu cầu: Đánh ba hồi trống để Quan Công chém chết tướng giặc thể hiện lòng thành, thẳng tay đánh trống để thách thức Quan Công.

=> Trương phi là người ngay thẳng, cứng cơi, không dung thứ cho kẻ hai lòng.

+ Quan Công giết Sái Dương khi chưa hết một hồi trống: Trương Phi rỏ nước mắt, thụp lạy Quan Công.

=> Trương Phi là con người giàu tình cảm, nóng nảy, thô lỗ nhưng khôn ngoan và biết trọng lẽ phải.

– Quan Công:

+ Gọi Trương Phi là “hiền đệ”, “em”, ông dùng lời lẽ mềm mỏng và nhờ hai chị dâu giải thích hộ.

+ Quan Công giết Sái Dương khi chưa hết một hồi trống: ca ngợi lòng trung nghĩa của Quan Công.

=> Quan Công là người bình tĩnh, chững minh sự trong sạch của mình bằng hành động

Câu 3 (trang 54, SGK Ngữ Văn 10 tập 2):

Đề bài: Phân tích và đánh giá ý nghĩa của câu chuyện được kể trong văn bản Hồi trống Cổ Thành.

Lời giải 

Tác giả tả bằng ba câu ngắn gọn, hàm súc: “Quan Công chẳng nói một lời, múa long đao xô lại. Trương Phi thẳng tay đánh trống. Chưa dứt một hồi, đầu Sái Dương đã lăn dưới đất.”

– Tạo không khí chiến trận cho hồi kể.

– “Hồi trống” là chi tiết nghệ thuật mang nhiều ý nghĩa:

+ Hồi trống thách thức: Đây là hồi trống để thử thách lòng trung thành của Quan Công, thử thách tài năng của Quan Công. Hồi trống vang lên cũng có nghĩa là Quan Công phải lao vào một cuộc chiến đối mặt với kẻ thù, đối mặt với hiểm nguy và cái chết. Tiếng trống giục giã như hối thúc nhân vật hành động.

+ Hồi trống giải oan: Quan Công đã không ngần ngại chấp nhận lời thách thức của Trương Phi để khẳng định lòng trung thành của mình. Bản thân sự dũng cảm đó đã thể hiện được tấm lòng Quan Công. Hơn thế nữa, ngay khi chưa dứt một hồi trống, đầu Sái Dương đã rơi xuống đất, và những tiếng trống tiếp theo đó chính là để minh oan cho Quan Công.

+ Hồi trống đoàn tụ: Kết thúc ba hồi trống, Quan Công giết tướng giặc, mọi nghi ngờ được hóa giải, và đó là lúc mà các anh hùng đoàn tụ. Hồi trống còn có ý nghĩa như là sự ngợi ca tình nghĩa huynh đệ, ngợi ca tấm lòng trung nghĩa của các anh hùng. Tiếng trống lúc này không còn thúc giục, căng thẳng, vội vã mà tiếng trống như reo vui chúc mừng cuộc hội ngộ của ba anh em.

+ Biểu dương tinh thần cương trực của Trương Phi, lòng trung nghĩa của Quan Công.

+ Ca ngợi tình nghĩa vườn đào của ba anh em Lưu – Quan – Trương.

=> Hồi trống Cổ Thành chính là linh hồn, kết tinh mọi yếu tố nội dung và nghệ thuật của văn bản.

Câu 4 (trang 54, SGK Ngữ Văn 10 tập 2):

Đề bài: Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 6-8 dòng) so sánh tính cách của hai nhân vật Trương Phi và Quan Công được thể hiện qua đoạn trích Hồi trống Cổ Thành.

Lời giải 

Trong đoạn trích Hồi trống Cổ Thành, nhân vật Quan Công và Trước Phi có tính cách hoàn toàn đối lập nhau. Trước hết, Trương Phi là một người có tính cách ngay thẳng, trọng tình cảm nhưng nóng nảy, đơn giản. Khi nghe Tôn Càn báo tin, Phi chẳng nói chẳng rằng lập tức mặc áo giáp, vác mâu lên ngựa; dẫn một nghìn quân, đi tắt ra cửa Bắc. Không tin lời thanh minh của Quan Công, Trương Phi đưa ra thử thách trong ba hồi trống buộc Quan Công phải lấy được đầu Sái Dương để chứng minh mình không bội nghĩa. Nhưng đến khi hiểu rõ sự tình, thụp lạy Quan Công, cho thấy Trương Phi biết nhận lỗi, rất tình cảm. Còn Quan Công lại là một người điềm tĩnh, tài trí và trung nghĩa. Quan Công bị Trương Phi hiểu lầm nhưng không tức giận, mà dùng lời lẽ mềm mỏng để giải thích, chấp nhận thử thách để chứng minh lòng trong sạch và giết chết Sái Dương khi chưa hết một hồi trống.

Câu 5 (trang 54, SGK Ngữ Văn 10 tập 2):

Đề bài: Với em, bài học sâu sắc nhất sau khi học văn bản Hồi trống Cổ Thành là gì?

Lời giải 

Với em, bài học sâu sắc nhất sau khi học văn bản Hồi trống Cổ Thành đó chính là tình cảm huynh đệ cảm động, những con người sẵn sàng hi sinh mạng sống vì nhau nhưng không chấp nhận sự bội tín, phản bội. Đồng thời ta nhận ra giá trị của lòng tin và chữ tín của mỗi người đối với các mối quan hệ xung quanh là vô cùng quan trọng. Tác giả khắc hoạ nổi bật vẻ đẹp sáng ngời về lòng tin nghĩa, sự trung thực và chân thành của tình anh em. Là tiểu thuyết khai thác đề tài trận mạc nhưng Tam quốc diễn nghĩa đã để lại rất nhiều bài học về đạo lí, về lối sống, lối ứng xử của người quân tử phương Đông, lấy quy chuẩn luân lí nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của Nho giáo làm mực thước.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.