Top tài liệu

A. TÊN ĐỀ TÀI

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 3B

B. PHẦN MỞ ĐẦU

I. Lí do chọn đề tài:

1. Lí do lí luận

Ở trường Tiểu học, Tiếng Việt là môn học quan trọng có nhiệm vụ hình thành năng lực ngôn ngữ học sinh được thể hiện qua 4 dạng: nghe – đọc – nói – viết. Trong đó, Tập đọc là phân môn đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng quan trọng “kĩ năng đọc”. Khi đọc tốt, viết tốt các em mới có thể tiếp thu được các môn học khác một cách trọn vẹn. Từ đó học sinh mới hoàn thiện được năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ chính của bản thân.

Tập đọc là phân môn đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng quan trọng. Vì vậy, việc tìm hiểu biện pháp để nâng cao hiệu quả giờ dạy phân môn Tập đọc là một vệc làm cần thiết đối với một giáo viên Tiểu học.

Đối với lớp 3 thì việc rèn đọc cho học sinh là một là một yêu cầu cơ bản, vô cùng quan trọng. Hiện nay việc dạy Tập đọc ở trường Tiểu học đạt kết quả chưa cao, chưa thỏa mãn với yêu cầu đặt ra. Có thể do nhiều nguyên nhân: do phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa phù hợp; phân bố thời gian dành cho rèn đọc còn ít; do học sinh phát âm không chuẩn; một số em khó khăn trong học tập. Phần luyện đọc giáo viên cho là dễ nhưng thực chất đây là phần khó khăn nhất, là phần trọng tâm trong giờ tập đọc. Ở lớp 3, nội dung hướng dẫn đọc ở một số bài chỉ dừng lại những lưu ý phát âm đúng các từ ngữ hoặc âm thanh của Tiếng Việt, chưa chú ý đầy đủ tới các thao tác nhằm tái hiện các tác phẩm hoặc khắc sâu kiến thức. Yêu cầu kĩ năng đọc của học sinh lớp 3 ngoài việc phát âm đúng học sinh phải đọc lưu loát từng đoạn, từng bài, biết ngắt phù hợp theo thể thơ hay nội dung đọc. Bước đầu đọc diễn cảm được bài có cảm xúc, biết nhấn giọng ở những ở những từ biểu cảm, gợi tả. Chính vì thế phải có biện pháp để nâng cao hiệu quả “Đọc”. “Đọc” nghĩa là các biện pháp rèn đọc cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng.

“Đọc” là một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học. Đầu tiên trẻ phải học đọc, sau đó trẻ đọc để học. Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh được ngôn ngữ dùng trong giao tiếp và học tập, nó cũng là công cụ để học các môn học khác, nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập, đồng thời tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập, đọc là một khả năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh. Biết đọc sẽ giúp các em biết nhiều hơn. Bồi dưỡng cho các em tư tưởng, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng: yêu cái đẹp, yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước; yêu quý, kính trọng, biết ơn ông bà, cha mẹ,…

2. Lí do thực tiễn

Chương trình phân môn Tập đọc lớp 3 gồm 70 tiết/ 35 tuần, mỗi tuần có 3 tiết.

Nguyên tắc và phương pháp dạy học sinh rèn đọc: Mỗi tiết tập đọc đều có 2 phần đó là Luyện đọc và Tìm hiểu nội dung bài, hai phần này luôn có mối quan hệ tương hỗ khăng khít. Phần Luyện đọc giúp học sinh đọc tốt văn bản, để hiểu và cảm thụ được nội dung, cái hay cái đẹp trong mỗi bài tập đọc.

Trong quá trình rèn đọc giáo viên cần sử dụng tốt một cách linh hoạt các phương pháp khác nhau để phù hợp với từng đối tượng học sinh. Khi hướng dẫn học sinh rèn đọc trước hết hướng dẫn học sinh đọc đúng, đọc đúng tiếng, từ, đọc đúng tiết tấu ngắt hơi đúng chỗ, đúng ngữ điệu câu. Từ đó giúp học sinh đọc đúng.

Qua thực tế giảng dạy và hỏi một số đồng nghiệp trong tổ, tôi rút ra được một số vấn đề cần lưu ý sau: Học sinh Vân Kiều ở tất cả các lớp đều đọc rất yếu, đọc sai dấu chiếm 90%.

Nhìn chung tất cả giáo viên đều rất coi trọng giờ Tập đọc, thời gian dành cho phần luyện đọc là chủ yếu. Thông thường khi dạy phần luyện đọc một số giáo viên chưa coi trọng việc rèn những lỗi phát âm sai ở địa phương đặc biệt là cách phát âm sai tất cả các dấu thanh vì cho rằng lỗi đó không sửa được của học sinh Vân Kiều. Phần đọc diễn cảm thì quá yếu, hầu như không thực hiện được phần đọc diễn cảm.

Đầu năm học 2016 – 2017, tôi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 3B với 34 em, 100% học sinh là dân tộc Vân Kiều. Qua khảo sát tôi thấy chất lượng đọc của học sinh quá thấp, hơn 70% em chưa đọc được. Là một giáo viên, tôi luôn muốn mang vốn hiểu biết, kinh nghiệm của mình góp phần truyền thụ, hướng dẫn các em học tập, làm cho tình hình thực tế học sinh lớp tôi trực tiếp giảng dạy ngày một tốt đẹp hơn. Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài SKKN: “Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 3B”.

II. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu để tìm ra một số biện pháp hướng dẫn học sinh rèn đọc nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Qua nghiên cứu, tôi thấy mỗi chúng ta cần có sự nhìn nhận đúng hơn, sâu hơn về tầm quan trọng của việc rèn đọc. Từ đó mỗi giáo viên biết lựa chọn phương pháp rèn đọc phù hợp với từng bài đọc, từng đối tượng học sinh để nâng cao chất lượng đọc trong học sinh qua mỗi giờ học phân môn Tập đọc.

Nhằm làm sáng tỏ những vấn đề mà nội dung đề tài được nghiên cứu, tìm hiểu về cách rèn đọc cho học sinh.

Kiểm nghiệm các giải pháp để thấy được hiệu quả của vấn đề được nghiên cứu.

III. Đối tượng nghiên cứu

Các vấn đề liên quan đến việc rèn đọc cho học sinh có hiệu quả.

Hiện trạng về mức độ đọc của từng nhóm học sinh trong lớp.

IV. Đối tượng khảo sát thực nghiệm

Học sinh lớp 3B năm học 2016 – 2017.

Tổng số học sinh: 34 em

Trong đó:

  • Nam: 18 em
  • Nữ: 16 em

Đối tương: 100% là học sinh dân tộc Vân Kiều.

V. Phương pháp nghiên cứu

Để việc rèn đọc cho đối tượng học sinh đọc yếu, đọc chưa được, đọc được nhưng còn mắc lỗi trong khi đọc bài tập đọc là một việc làm rất cần thiết giúp học sinh rèn đọc, nâng cao chất lược đọc, kỹ năng đọc, cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Với những kinh nghiệm đã tích luỹ được, tôi tiến hành nghiên cứu chương trình, SGK, các tài liệu tham khảo về Tiếng Việt 3, điều tra GV và HS.

Trong quá trình nghiên cứu và áp dụng kinh nghiệm, tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:

  • Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế.
  • Phương pháp trao đổi, đàm thoại với đồng nghiệp.
  • Phương pháp thực nghiệm.
  • Phương pháp độc lập – lấy học sinh làm trung tâm.

VI. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu

1. Phạm vi nghiên cứu

Để các biện pháp rèn đọc được thực hiện một cách có hiệu quả, tôi chú ý đến một số vấn đề sau:

  • Tâm lí học của học sinh khi ở trường và ở nhà.
  • Khả năng đọc của học sinh.
  • Các biện pháp rèn đọc theo sự tiến bộ của học sinh.

2. Kế hoạch nghiên cứu

Nghiên cứu bắt đầu từ tháng 9/2016 đến 29/3/2017.

C. NỘI DUNG

I. Cơ sở lí luận

Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực này được thể hiện trong 4 dạng hoạt động tương ứng với 4 kĩ năng: nghe – đọc – nói – viết. Như vậy “đọc” là dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển chữ viết sang lời nói có âm thanh (đọc thành tiếng) là quá trình chuyển trực tiếp từ chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (đọc thầm).

Đọc không phải là công việc giải quyết một bộ mã gồm phần chữ viết và phát âm, nghĩa là nó không chỉ là sự “đánh vần” lên thành tiếng đúng như các kí hiệu chữ viết mà đọc còn là quá trình nhận thức để có khả năng cho học sinh hoàn thành 4 kĩ năng trên.

II. Cơ sở thực trạng

Năm học 2016 – 2017 là năm học tiếp tục chấm dứt tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp, tình trạng học sinh không biết đọc, không biết viết vẫn lên lớp của Ngành giáo dục. Muốn vậy thì việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh được đặt lên hàng đầu, người trực tiếp thực hiện chủ trương này không ai khác là người giáo viên trực tiếp đứng lớp. Để học sinh không ngồi nhầm lớp thì cái cơ bản, quan trọng nhất là tất cả các học sinh đều phải đọc thông viết thạo. Nói vậy nghe có vẻ rất đơn giản, đọc – viết thì có gì mà khó. Nhưng thực tế cho thấy không dễ chút nào.

Đặc biệt, ở trường Tiểu học Hướng Phùng hơn có 70% học sinh là người dân tộc Vân Kiều, việc đọc đúng, viết đúng là một vấn đề mà tất cả các giáo viên đứng lớp còn phải trăn trở.

Để học được và nắm được kiến thức, sử dụng thành thạo ngôn ngữ giao tiếp thì học sinh phải đọc đúng, viết đúng. Đọc là kĩ năng cơ bản, thiết yếu trong việc học của học sinh. Thấy được tầm quan trọng của việc đọc, tôi luôn tìm tòi những biện pháp để việc rèn đọc cho học sinh có hiệu quả.

Khi nhận lớp, tôi thấy chất lượng đọc của học sinh trong lớp không đạt theo yêu cầu, nên tôi đã tiến hành khảo sát về đọc đầu năm học để thuận lợi hơn trong việc rèn đọc cho các em. Với lớp có 34 học sinh, kết quả khảo sát như sau:

Đọc được nhưng sai dấu thanh Đọc chậm, đánh vần Đọc một số vần còn sai Chưa đọc được
SL % SL % SL % SL %
4 em 11,8 10 em 35,3 13 em 38,2 7 em 14,7

III. Giải pháp thực hiện

Để tìm ra giải pháp thích hợp, ngay từ đầu năm học tôi đã tìm hiểu gia đình từng học sinh. Khảo sát chất lượng đọc cụ thể của từng em để rồi có biện pháp cụ thể trong quá trình dạy đọc và rèn đọc cho học sinh. Tôi đã sử dụng một số biện pháp sau:

– Khảo sát chất lượng đọc của học sinh.

– Phối hợp với phụ huynh học sinh.

– Rèn đọc trong phân môn Tập đọc.

– Dành thêm thời gian ngoài giờ học.

– Sau đây là các biện pháp cụ thể mà tôi đã thực hiện:

1. Khảo sát chất lượng đọc của học sinh:   

Ngay từ đầu năm học, tôi tiến hành khảo sát khả năng đọc của từng em, phân loại, ghi vào sổ tay cụ thể những lỗi phát âm sai của từng học sinh, để trong các giờ tập đọc dễ theo dõi và sửa lỗi sai cho học sinh. Tôi chia khả năng đọc của học sinh vào các nhóm như sau:

Đọc được nhưng sai dấu thanh:   4 em

Đọc chậm, đánh vần:      12 em

Đọc một số vần còn sai:  13 em

Chưa đọc được:     5 em

Lỗi sai chủ yếu ở học sinh là đọc tiếng sai dấu thanh: tiếng có dấu thanh thì đọc có dấu thanh, tiếng không có dấu thanh thì các em đọc có dấu thanh.

Ví dụ: + “Hai Bà Trưng” các em đọc “Hái Bá Trứng”.

+ “lựa chọn” các em đọc “lua chon”.

Các em còn vụng trong đánh vần.

Ví dụ: ơ – i – ơi các em lại đánh vần ơ – i – ây,…

Còn vụng trong ghép vần với âm đầu

Ví dụ: Khi đọc “khuỷu tay”, các em đánh vần u-y-u-uyu nhưng khi ghép thành tiếng lại đọc kh-uy-khủy – “khủy tay”mà không đọc được là “khuỷu tay”.

Và có 5 em đọc chưa được do chưa nắm hết các mặt chữ cái ghép.

Ví dụ: Âm ngh, th, ph, ch, tr,…vì vậy khó khăn trong việc đánh vần và đọc.

2. Phối hợp với phụ huynh học sinh

Nắm được tình hình thực tế việc đọc yếu của học sinh trong lớp. Được nhà trường taọ điều kiện cho giáo viên chủ nhiệm họp phụ huynh lớp đầu năm học. Phụ huynh đã kịp thời nắm được năng lực học tập, đặc biệt là kĩ năng đọc yếu của con em mình qua tìm hiểu của giáo viên.

Trong buổi họp phụ huynh, tôi mạnh dạn yêu cầu phụ huynh cần phải kết hợp cùng với Nhà trường thực hiện các nhiệm vụ sau:

Cần chuẩn bị đủ SGK, vở và một số đồ dùng cần thiết để giúp các em không chỉ học tốt phân môn Tập đọc mà còn học tốt các môn học khác.

Phải quan tâm nhắc nhở các em đi học đầy đủ, chuyên cần.

Thường xuyên đôn đốc việc luyện đọc ở nhà (thời gian ở nhà ngoài học các môn học khác ít nhất dành 40 – 50 phút cho luyện đọc), đọc các bài học trong sách Tiếng Việt 3.

Ngoài ra, có thể cho các em tiếp xúc với các loại sách truyện dành cho thiếu nhi để giúp các em tiếp xúc nhiều hơn các mặt chữ.

Trên lớp giáo viên thường xuyên vừa rèn đọc, kiểm tra sự tiến bộ của học sinh.

3. Rèn đọc trong phân môn Tập đọc

+ Đọc mẫu tốt:

Thông thường, đối với lớp 3 đối tượng học sinh học tốt thì đọc mẫu có thể là một học sinh đọc tốt trong lớp. Nhưng đối với lớp tôi, đối tượng học sinh100% là đọc yếu nên giáo viên phải là người đọc mẫu. Khi đọc mẫu cần thể hiện rõ giọng đọc, cách ngắt nghỉ đúng ở dấu chấm, dấu phẩy, ngắt đúng ở nhữn câu dài. Đọc mẫu tốt sẽ tạo hứng thú cho học sinh hướng vào bài học tích cực hơn. Trong tiết Tập đọc tôi cần học sinh đảm bảo các yêu cầu sau:

+ Luyện đọc thành tiếng, từ, câu:

Hướng dẫn học sinh đọc thành tiếng: Đây là một bước hết sức quan trọng trong tiết Tập đọc, tôi thường dành thời gian khoảng 20 – 25 phút để luyện đọc cho học sinh.

Muốn học sinh đọc thành tiếng đúng, trước hết cần phải rèn cho học sinh cách phát âm rõ ràng, đánh vần đúng, đọc đúng – rõ từng tiếng. Để làm được như vậy, tôi đã tiến hành thực hiện các bước như sau:

Ngay từ đầu năm học, tôi đã điều tra, phân loại thành từng nhóm theo mức độ đọc của học sinh để có kế hoạch rèn, uốn nắn. Hàng tháng, tôi ghi rõ mức độ tiến bộ và những lỗi học sinh còn mắc phải của từng học sinh vào quyển sổ riêng.

Một học sinh dành riêng một trang để theo dõi.

Ví dụ: Em Hồ Thị Được

Đặc điểm: Đọc chậm, chưa đọc được một số âm ghép, nhiều tiếng đọc sai do đánh vần sai, đọc thêm dấu thanh hoặc bỏ dấu thanh.

Tháng

Tiến bộ Tồn tại

Biện pháp

9 Nhận biết và đọc đúng các âm ghép: ngh, th, ch, ng, ph, nh, kh,… Đọc sai một số tiếng do đánh vần sai, đọc sai dấu thanh. Cho học sinh luyện đọc, giáo viên trực tiếp phát âm, giúp học sinh nhận biết các âm ghép.
10 Đọc đúng hơn các vần, ghép tiếng đúng hơn. Phát âm chưa chuẩn, còn đọc sai các vần oay/uyu/oat/oăt,… Cho học sinh luyện đọc, giáo viên trực tiếp hướng dẫn học sinh cách đánh vần, phát âm vần đó rồi ghép với âm đầu rồi đọc tiếng.
11 Đọc được tiếng có các vần khó oay/uyu/oat/oăt,… nhưng còn chậm. Phát âm chưa chuẩn khi đọc các tiếng có vần khó. Cho học sinh luyện đọc, giáo viên phát âm mẫu rồi yêu cầu phát âm theo.
12 Đọc trơn được từng tiếng. Đọc trơn được tiếng nhưng còn ngắc ngứ. Vẫn mắc một số lỗi phát âm do đánh vần sai. Học sinh luyện đọc, giáo viên kèm cặp, nhắc, giúp học sinh đánh lại vần và phát âm lại tiếng đó.
1 Đọc trơn câu nhưng còn ngắc ngứ. Đọc trơn được câu nhưng còn ngắc ngứ, dừng lại ở một số tiếng, từ khó. Đọc sai hết các dấu thanh. Cho học sinh luyện đọc, giáo viên trực tiếp rèn cách đọc cho học sinh, động viên sự tiến bộ của học sinh.
2 Đọc trơn câu nhưng còn chậm. Đọc trơn câu ít ngắc ngứ hơn, các tiếng có vần khó cũng đã dần dần được khắc phục. Cho học sinh luyện đọc, yêu cầu học sinh đọc tốt hơn kèm cặp, theo dõi, giúp đỡ bạn.
3 Đọc trơn câu có tiến bộ hơn. Đọc trơn được câu ít ngắc ngứ hơn. Cho học sinh luyện đọc, giáo viên lắng nghe nhắc nhở, tuyên dương.

Khi luyện đọc cho học sinh tôi thường thực hiện như sau:

– Học sinh đọc

– Giáo viên lắng nghe học sinh đọc.

– Học sinh đọc sai giáo viên cho dừng lại đánh vần rồi đọc lại tiếng từ đó. Nếu học sinh vẫn đọc không đúng thì giáo viên đánh vần, yêu cầu học sinh đánh vần lại và đọc.

– Sửa cho đến khi học sinh đọc đúng.

– Giúp học sinh phân biêt sự khác nhau giữa tiếng các em đọc sai và tiếng các em vừa đọc đúng để học sinh có thể dễ sửa, dễ nhớ lỗi sai của mình.

Ví dụ: Khi các em đọc bài “ Tiếng đàn”(Tiếng Việt 3 – tập 2/ trang 54)

“Ngoài Hồ Tây, dân chài đang tung lưới bắt cá. Hoa mười giở nở đỏ quanh các lối đi ven hồ”.

Học sinh thường đọc câu này như sau:

“Ngoai Hô Tây, dần chai đàng tùng lươi bặt ca. Hoá mươi giơ đo quánh

cạc lồi đi vẹn đương”.

Có học sinh lại đọc:

“ Ngai Hô Tấy, danh chai đang tùng lới bặt ca. Hao mươi giơ đo quăn cạc lội đi ven đương”.

Đối với học sinh lớp 3B, tôi chỉ lưu tâm vào việc rèn đọc đúng, phát âm chuẩn tiếng, từ, câu. Rồi rèn đọc trọn câu, đọc trôi chảy, đúng dấu thanh đối với những em đã đọc được.

Tôi thường xuyên động viên, khen ngợi những học sinh có nhiều tiến bộ.

+ Luyện đọc ngắt nghỉ câu, đoạn:

Bên cạnh luyện đọc đúng, tôi còn rèn cho học sinh cách ngắt nghỉ khi đọc một đoạn văn hay một đoạn thơ.

Đối với nhóm học sinh đọc đúng, phát âm chuẩn tôi hướng dẫn các em cách nhấn giọng, ngắt nghỉ khi đọc câu, đoạn văn.

Ví dụ: Khi học sinh đọc bài: “ Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục”. Sách Tiếng Việt 3 – Tập II/ trang 94.

“Mỗi một người dân yếu ớt/ tức là cả nước yếu ớt,/ mỗi một người dân mạnh khỏe/ là cả nước mạnh khỏe.//

Vậy nên luyện tập thể dục,/ bồi bổ sức khỏe/ là bổn phận của mỗi một người yêu nước”.//

Ví dụ: Khi đọc bài thơ“ Cùng vui chơi”. Sách Tiếng Việt 3 – Tập II/ trang 84.

Quả cầu giấy/ xanh xanh

Qua chân tôi, /chân anh

Bay lên/ rồi lộn xuống

Đi từng vòng/ quanh quanh//.

Trong giờ Tập đọc trên lớp, 100% học sinh được đọc. Giáo viên đến từng em khi đọc để tiện phát hiện lỗi sai và sửa lỗi sai kịp thời cho học sinh.

Ngoài luyện đọc ở lớp, các tiết phụ đạo tôi còn dặn các em về nhà đọc lại bài đã học và đọc trước bài học tiếp theo.

Trong quá trình dạy học, muốn học sinh kiên trì, chăm chỉ rèn đọc và đạt kết quả như mong muốn thì người giáo viên không chỉ có những phương pháp dạy học tốt mà còn phải có thái độ ôn hòa, cởi mở, hòa nhã với học sinh. Kiên trì uốn nắn, sửa cách đọc cho các em để các em đọc được bài một cách tốt nhất.

+ Luyện đọc thầm

Sau khi đã rèn đọc thành tiếng, tôi tiến hành cho các em đọc thầm. Khi yêu cầu học sinh đọc thầm, một số em chỉ nhìn sách mà không đọc. Để khắc phục tình trạng này, tôi đã hướng dẫn các em:

Tập trung vào bài, phải đọc đầy đủ các tiếng trong câu, đọc bằng mắt. Khi đọc không dùng tay hay vật gì để chỉ từng dòng.

Kiểm tra thêm bằng cách bất ngờ hỏi: Em đọc đến đâu rồi?. Cứ như vậy giúp học sinh có ý thức tự giác khi đọc thầm.

Bên cạnh đó giáo viên cũng phải quan sát kĩ từng em để nhắc nhỡ kịp thời.

4. Dành thời gian ngoài giờ học để luyện đọc cho học sinh

Ngoài thời gian học chính khóa, tôi còn lên kế hoạch phụ đạo cho học sinh như sau:

Một tuần tăng cường thêm 2 tiết rèn đọc cho những học sinh đọc yếu.Tăng thời gian rèn đọc cũng là một trong những yếu tố góp phần nâng cao chất lương đọc cho học sinh.

III. Kết quả thực hiện

Sau thời gian nghiên cứu và sử dụng các phương pháp rèn đọc cho học sinh, thì 100% em đã đọc được. Tuy nhiên vẫn có một số em đọc chưa trôi chảy và còn đọc sai dấu thanh. Tỉ lệ học sinh đọc được tăng lên rõ rệt. Kết quả đạt được như sau:

Đọc được nhưng sai dấu thanh Đọc chậm, đánh vần Đọc một số vần còn sai Chưa đọc được
SL % SL % SL % SL %
20em 58,9 10em 29,4 4 em 11,7 0 em 0

Qua kết quả đã đạt được, tôi mong rằng đây là một trong những kinh nghiệm có thể áp dụng rộng rãi trong dạy rèn đọc đối với các lớp có đối tượng học sinh đọc yếu.

D. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

I. Kết luận

Những biện pháp rèn đọc cho học sinh như trên, tôi đã trực tiếp áp dụng trên lớp mình phụ trách. Kết quả sau thời gian áp dụng khá khả quan, chất lượng đọc của học sinh được tăng lên rõ rệt.

Theo tôi, để rèn đọc tốt cho học sinh giáo viên phải xây dựng cho mình một kế hoạch cụ thể tùy theo khả năng đọc của từng nhóm đối tượng học sinh, nghiên cứu kĩ những đặc điểm cần rèn của từng nhóm đối tượng học sinh.

Khi rèn đọc cho học sinh giáo viên không chỉ tâm huyết, nhiệt tình vì học sinh mà còn phải kiên trì, khéo léo để học sinh không thấy chán, ham thích rèn đọc, lúc đó chất lượng đọc mới dễ dàng được nâng cao.

Thực tế có những học sinh lười nhác, có giáo viên đứng cạnh thì đọc còn không thì lơ là, làm việc riêng hay ngồi ngây ra. Với những trường hợp như vậy, thì giáo viên cần động viên, khen để họ sinh có hứng thú rèn đọc.

II. Kiến nghị

Nhà trường

Đối với đối tượng học sinh là dân tộc Vân Kiều, nhà trường tạo điều kiện để 100% học sinh được mượn SGK từ thư viện Nhà trường (chất lượng SKG đã hư hỏng, nhiều trang bị mất dẫn đến mất bài đọc, bài học.)

Số lượng học sinh trong mỗi lớp không quá đông, nếu được có thể 20 – 25 em/ 1 lớp.

Bàn ghế phải đúng kích cỡ, vừa tầm với học sinh.

Giáo viên

Cần có sự nhiệt tình, yêu thương học sinh.

Luôn sử dụng phù hợp các phương pháp để rèn đọc cho học sinh có hiệu quả.

Phụ huynh

Luôn quan tâm, nhắc nhở việc học ở nhà của con em.

Trên đây là những kinh nghiệm của bản thân tôi trong quá trình dạy rèn đọc cho học sinh. Kính mong Hội đồng khoa học góp ý để SKKN của tôi được hoàn thiện hơn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.