Vùng nước nội địa của quốc gia bao gồm

Trắc nghiệm: Vùng nước nội địa của quốc gia bao gồm:

A. Biển, hồ ao, sông ngòi, đầm nằm trên khu vực biên giới

B. Biển, hồ ao, sông ngòi, đầm nằm tại khu vực cửa biển

C. Biển, hồ ao, sông ngòi, đầm nằm ngoài khu vực biên giới

D. Biển nội địa, hồ ao, sông ngòi, đầm nằm trên vùng đất liền

Đáp án đúng: D. Biển nội địa, hồ ao, sông ngòi, đầm nằm trên vùng đất liền

Vùng nước nội địa của quốc gia bao gồm: Biển nội địa, hồ ao, sông ngòi, đầm nằm trên vùng đất liền

Cùng Top tài liệu tìm hiểu về vấn đề này nhé!

1. Vùng nội thủy của Việt Nam như thế nào?

Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối với vùng nội thủy và bầu trời phía trên như lãnh thổ đất liền. Các quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ như trên lãnh thổ đất liền đối với tàu thuyền cộng đồng có tổ chức và đáp ứng các quy tắc riêng. Vùng nước nội thủy gồm các vùng nước cảng biển, vũng tàu, cửa sông, vịnh, các vùng nước nằm giữa lãnh thổ đất liền và đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải.

Theo Tuyên bố ngày 12/05/1977 của Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Vùng biển ở phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển là nội thủy của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Đường cơ sở của Việt Nam là những đường thẳng gãy khúc nối liền 11 điểm, từ điểm A1 (hòn Nhạn thuộc quần đảo Thổ Chu, Kiên Giang) đến điểm A11 (đảo Cồn Cỏ, Quảng Trị).

Vùng nước nội địa của quốc gia bao gồm

Việc quy định nội thủy trong Luật Biển Việt Nam là sự kế thừa các tuyên bố về đường cơ sở, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam hoàn toàn thống nhất, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng của Luật Biển Việt Nam để thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ ở vùng nội thủy Việt Nam.

  • 0 – Nằm trên ranh giới phía tây nam của vùng nước lịch sử của Việt Nam và Campuchia
  • A1 – Hòn Nhạn, quần đảo Thổ Chu, tỉnh Kiên Giang
  • A2 – Hòn Đá lẻ ở đông nam Hòn Khoai, tỉnh Minh Hải
  • A3 – Hòn Tài Lớn, Côn Đảo, Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo
  • A4 – Hòn Bông Lang – Côn Đảo
  • A5 – Hòn Bảy cạnh – Côn Đảo
  • A6 – Hòn Hải (nhóm đảo Phú Quý), tỉnh Thuận Hải
  • A7 – Hòn Đôi, tỉnh Thuận Hải
  • A8 – Mũi Đại Lãnh, tỉnh Phú Khánh
  • A9 – Hòn Ông Căn, tỉnh Phú Khánh
  • A10 – Đảo Lý Sơn, tỉnh Nghĩa Bình
  • A11 – Đảo Cồn Cỏ, tỉnh Bình Trị Thiên

2. Khái niệm nội thủy

“Nội thủy” (còn gọi “vùng nước nội địa”) là vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở (baseline) để tính chiều rộng của lãnh hải (nói tắt là “đường cơ sở”) và giáp với bờ biển. Đường cơ sở này do quốc gia ven biển quy định vạch ra. Từ đó trở vào gọi là nội thủy, từ đó trở ra gọi là lãnh hải.

Theo nội dung định nghĩa của UNCLOS 1982 thì nội thủy là vùng biển nằm bên trong đường cơ sở thông thường và đường cơ sở thẳng (vùng nước bên trong đường cơ sở quần đảo là vùng nước quần đảo). Nội thủy là vùng biển gần ngay sát bờ biển, bao gồm cả vùng nước cảng biển và vùng nước bên trong đường đóng cửa vịnh. Nội thủy không bao gồm vùng nước hay hồ nước bên trong lãnh thổ đất liền, như các hồ Dầu Tiếng của Việt Nam, Biển Hồ của Campuchia hay Biển Caspia.

3. Cách phân định

Vùng nội thủy được phân định và căn cứ trên đường cơ sở duyên hải. Khi tính toán nội thủy thì cũng phải cân nhấc đến những cửa sông hay các vịnh nhỏ mà toàn phần thuộc về quốc gia ven biển thì theo quy thức như sau:

– Nếu một con sông chảy trực tiếp ra biển thì đường cơ sở sẽ là đường thẳng đi ngang qua cửa sông, nối các điểm ở mực nước thấp nhất (tức mực nước ròng đo trung bình trong nhiều năm) trên hai bờ con sông.

– Nếu một vịnh nhỏ thuộc toàn phần về một quốc gia thì cần xác định xem đó là một vịnh “đúng”(theo định nghĩa địa hình) hay chỉ là đoạn thụt vào tự nhiên của bờ biển (theo khoản 2 điều 10 phần II của Công ước). Một vũng hay vịnh được coi là “đúng” nếu diện tích của phần lõm vào, bị cắt bởi đường cơ sở, lớn bằng hoặc là hơn diện tích của hình bán nguyệt được tạo ra với đường kính bằng chính chiều dài của phân đoạn đường cơ sở tại phần lõm vào đó. Nếu trong đoạn lõm vào này có một số đảo thì hình bán nguyệt tưởng tượng sẽ có đường kính bằng tổng chiều dài các phân đoạn của các đường cơ sở. Ngoài ra, chiều dài của đường kính này không vượt quá 24 hải lý. Vùng nước bên trong của đường cơ sở tưởng tượng đó cũng được coi là nội thủy. Quy tắc này không áp dụng cho các vũng, vịnh đã thuộc chủ quyền của một quốc gia nào đó mang tính chất “lịch sử” hoặc trong bất kỳ trường hợp nào mà việc áp dụng đường cơ sở thẳng là hợp lý.

4. Quy định chung của pháp luật về nội thủy

Theo quy định của luật biển quốc tế và pháp luật của các quốc gia, nội thủy thuộc chủ quyển hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia ven biển, chủ quyền này được thực hiện cả ở phần nước nội thuỷ, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển cũng như vùng trời trên nội thủy.

Có thể thấy về mặt pháp lý thì vùng nước nội thủy đã nhất thể hóa với lãnh thổ đất liền nên có chế độ pháp lý đất liền, nghĩa là đặt dưới chủ quyền toàn vẹn, tuyệt đối của quốc gia vùng ven biển. Tàu thuyền nước ngoài muốn vào ra nội thủy phải xin phép quốc gia ven biển và phải tuân theo luật lệ của quốc gia đó (trừ trường hợp tàu thuyền đó đang gặp tai nạn, rủi ro đe dọa sự an toàn của chính phương tiện và những người có mặt trên phương tiện đó). Nước ven biển có quyền không cho phép tàu thuyền ra vào nội thủy.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *